Cần Thơ đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong nuôi trồng thủy sản (11-11-2025)

Trong bối cảnh Đồng bằng sông Cửu Long đang đối mặt với những diễn biến phức tạp của biến đổi khí hậu, ô nhiễm môi trường và dịch bệnh, ngành nuôi trồng thủy sản tại thành phố Cần Thơ vẫn duy trì được vị thế, đóng góp lớn vào an ninh lương thực quốc gia và xuất khẩu nông sản. Báo cáo mới đây của Chi cục Thủy sản và Kiểm ngư thành phố Cần Thơ đã phác họa rõ nét hiện trạng, những khó khăn và đặc biệt là các giải pháp đột phá nhằm hướng tới một nền nuôi trồng thủy sản bền vững, thân thiện với môi trường.
Cần Thơ đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số trong nuôi trồng thủy sản
Ảnh minh họa

Nuôi trồng thủy sản Cần Thơ: Vai trò chủ lực và những áp lực không ngừng

Đồng bằng sông Cửu Long từ lâu đã được khẳng định là vùng nông nghiệp trọng điểm của Việt Nam, đóng góp một nửa sản lượng lúa cả nước, 70% sản lượng trái cây, 65% sản lượng nuôi trồng thủy sản, 90% sản lượng gạo xuất khẩu và 60% sản lượng thủy sản xuất khẩu. Trong bức tranh chung ấy, thành phố Cần Thơ nổi lên như một trung tâm với vị trí địa lý thuận lợi, điều kiện tự nhiên lý tưởng cho cả nuôi trồng và đánh bắt thủy sản. Lĩnh vực nuôi trồng thủy sản, đặc biệt là nuôi tôm nước lợ, đã và đang trở thành trụ cột kinh tế của thành phố, với tôm sú và tôm thẻ chân trắng giữ vai trò chủ lực.

Tính đến tháng 9 năm 2025, diện tích thả nuôi trên địa bàn thành phố Cần Thơ đạt 89.740 ha trên kế hoạch 96.500 ha, đạt 93% chỉ tiêu, tăng 5,03% so với cùng kỳ năm trước. Trong đó, diện tích nuôi tôm chiếm 48.720 ha, bao gồm 11.470 ha tôm sú và 37.250 ha tôm thẻ chân trắng. Về sản lượng, ước tính đạt 525.250 tấn trên kế hoạch 705.958 tấn, đạt 74,4% chỉ tiêu, trong đó tôm nước lợ đạt 167.700 tấn với tôm thẻ chân trắng đóng góp tới 155.600 tấn và tôm sú 12.100 tấn. Những con số này cho thấy tôm thẻ chân trắng tiếp tục giữ vai trò chủ đạo, là yếu tố quyết định trong tăng trưởng thủy sản của thành phố.

Tuy nhiên, năm 2024 và 9 tháng đầu năm 2025 lại là khoảng thời gian khó khăn thử thách đối với ngành nuôi trồng thủy sản Cần Thơ. Thời tiết mưa bão bất thường, biến đổi khí hậu ngày càng gay gắt, ô nhiễm môi trường nghiêm trọng, dịch bệnh liên tục bùng phát, chi phí đầu vào tăng cao trong khi thị trường tiêu thụ ngày càng khắt khe về tiêu chuẩn chất lượng đã tạo nên một áp lực kép đối với người nuôi. Ngành thủy sản dù là kinh tế mũi nhọn, là đầu tàu phát triển của thành phố, nhưng đang phải đối mặt với nhiều rủi ro chưa từng có.

Những khó khăn cụ thể bao gồm việc diện tích nuôi thâm canh ngày càng mở rộng nhưng hệ thống thủy lợi, giao thông, điện và công nghệ chưa đồng bộ, chưa theo kịp tốc độ phát triển. Quy mô nuôi vẫn chủ yếu nhỏ lẻ, hạn chế trong việc ứng dụng tiến bộ kỹ thuật, thiếu vốn đầu tư và ý thức chấp hành quy định bảo vệ môi trường còn chưa cao. Chất lượng môi trường đất, nước và các hệ sinh thái bị biến đổi mạnh do suy thoái và ô nhiễm, từ đó phát sinh dịch bệnh thường xuyên. Việc xả nước thải chưa qua xử lý ra môi trường, bơm bùn ra sông vẫn diễn ra ở một số nơi. Chi phí đầu tư cho thức ăn, con giống, vật tư, năng lượng không ngừng tăng cao khiến người nuôi rơi vào thế khó.

Chính những thách thức này đã thúc đẩy ngành nông nghiệp và môi trường thành phố Cần Thơ triển khai hàng loạt giải pháp đồng bộ, trong đó trọng tâm là đổi mới sáng tạo, ứng dụng khoa học công nghệ và bảo vệ môi trường theo hướng bền vững.

Kết quả bước đầu từ các giải pháp bảo vệ môi trường trong nuôi trồng thủy sản

Nhằm giải quyết các vấn đề môi trường đang đặt ra, ngành nông nghiệp và môi trường thành phố Cần Thơ đã triển khai Đề án phát triển ngành tôm bền vững giai đoạn 2023 - 2025, tầm nhìn đến năm 2030. Mục tiêu của đề án là phát triển ngành tôm theo hướng tập trung, ứng dụng công nghệ cao, công nghệ số và các thành tựu khoa học kỹ thuật vào sản xuất, thân thiện với môi trường, phù hợp với đặc điểm sinh thái từng vùng và phát huy tối đa tiềm năng tự nhiên cũng như lợi thế thị trường. Đến nay, đề án đã triển khai thành công 41 mô hình trình diễn, mang lại hiệu quả rõ rệt cả về năng suất lẫn bảo vệ môi trường.

Song song với đó, thành phố đã tổ chức 20 lớp tập huấn về công tác bảo vệ môi trường trong nuôi trồng thủy sản, giúp nâng cao nhận thức và kỹ năng cho hàng trăm hộ nuôi. Công tác quản lý môi trường được thực hiện định kỳ liên tục tại các điểm sông rạch, kênh dẫn nguồn, góp phần kiểm soát chất lượng nước đầu vào. Nhiều hội thảo chuyên đề, hội thảo đầu bờ, chuyên mục khuyến nông trên truyền hình đã được tổ chức nhằm phổ biến kiến thức, chia sẻ kinh nghiệm thực tiễn đến từng hộ dân.

Áp dụng khoa học kỹ thuật và đổi mới sáng tạo: Từ RAS đến các giải pháp xử lý chất thải

Một trong những điểm sáng nổi bật nhất chính là việc ứng dụng hệ thống nuôi tuần hoàn khép kín RAS trong nuôi tôm thâm canh. Dự án được tài trợ bởi tổ chức hợp tác quốc tế Đức GIZ “Cải thiện Hệ thống tuần hoàn nước phục vụ nuôi trồng thủy sản bền vững (i4Ag)” đã thúc đẩy mạnh mẽ sự đổi mới sáng tạo, từ mô hình nuôi siêu thâm canh đến quảng canh. Kết quả thử nghiệm tại trang trại Trường Thủy sản - Đại học Cần Thơ cho thấy năng suất đạt 35,8 tấn mỗi ha mỗi vụ, tương đương 107,4 tấn mỗi ha mỗi năm với ba vụ nuôi. Tại trang trại RAS ở Sóc Trăng, con số này còn cao hơn, đạt 42,5 tấn mỗi ha mỗi vụ và 127,5 tấn mỗi ha mỗi năm.

Hệ thống RAS mang lại nhiều lợi ích vượt trội. Chất lượng nước được cải thiện đáng kể nhờ mức độ ổn định cao hơn. Tốc độ tăng trưởng của tôm nhanh hơn, rút ngắn thời gian nuôi tới 11 ngày. Tỷ lệ sống tăng 6%. Hệ số chuyển đổi thức ăn FCR thấp hơn nhờ sử dụng bí ngô thay thế 25% đến 30% thức ăn công nghiệp, đồng thời cải thiện màu sắc thịt tôm. Trong thời gian tới, Chi cục thủy sản Cần Thơ sẽ phối hợp với GIZ và Trường Thủy sản hoàn thiện quy trình nuôi RAS, tổ chức hội thảo, tập huấn đầu bờ, tiếp tục triển khai mô hình để nhân rộng và đánh giá việc thu gom, tái chế nước, bùn thải, phụ phẩm tôm theo hướng bền vững.

Bên cạnh RAS, nhiều giải pháp xử lý môi trường khác cũng được phổ biến rộng rãi. Mô hình sử dụng lọc tuần hoàn, tiết kiệm chi phí của Công ty thức ăn thủy sản GrowMax, hệ thống lọc chất thải CDSS của Công ty Uni President với hiệu quả cao đã được bà con áp dụng rộng rãi, góp phần giảm thiểu ô nhiễm nguồn nước.

Về quản lý chất thải rắn, dự án i4Ag phối hợp với Công ty TNHH Evergreen Social Ventures tại tỉnh Sóc Trăng tập trung thu gom và chuyển đổi bạt lót ao đã qua sử dụng một cách bền vững, hiệu quả và có khả năng mở rộng. Dự án đã cơ bản hoàn thành các hoạt động, giảm thiểu đáng kể rác thải nhựa phát sinh từ nuôi trồng thủy sản, đồng thời thúc đẩy tái chế nhựa hiệu quả hơn.

Một hướng đi khác đầy ý nghĩa là dự án phối hợp với ActionAid Quốc tế mang tên “Tăng cường năng lực chuyển đổi năng lượng tái tạo và quản lý chất thải vì môi trường bền vững ở Đồng bằng sông Cửu Long (K1)”. Dự án đã triển khai 40 mô hình biogas trong chăn nuôi và nuôi trồng thủy sản, nâng cao nhận thức và năng lực cho cộng đồng địa phương. Đây là mô hình có tác động lớn trong việc xử lý chất thải hữu cơ, giảm phát thải khí nhà kính và bảo vệ môi trường.

Ngoài ra Dự án “Giảm thiểu, tái sử dụng, tái chế để bảo vệ môi trường biển và các rạn san hô ở khu vực Đông Nam Á (3RproMar)” do GIZ triển khai đã liên kết chuỗi giá trị thu mua, tái chế chất thải nhựa từ hoạt động nuôi trồng và khai thác thủy sản. Dự án phát triển các kế hoạch phân loại chất thải nhựa, nâng cao nhận thức, xây dựng nhiều mô hình sáng tạo như cơ sở phục hồi vật liệu, bẫy rác thải biển, ngôi nhà xanh, ủ phân hữu cơ. Đặc biệt, sáng kiến khởi nghiệp xanh đã thành lập câu lạc bộ khởi nghiệp xanh cùng Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên, Hội Nông dân và các tổ chức cộng đồng xã hội tại địa phương.

Dự án phối hợp với Tổ chức bảo tồn thiên nhiên Quốc tế IUCN và quỹ CocaCola tập trung tăng cường khả năng chống chịu vùng ven biển thông qua phục hồi rừng ngập mặn và các giải pháp dựa vào thiên nhiên tại tỉnh Sóc Trăng. Dự án lựa chọn các hộ nuôi vùng ven biển thuộc xã Vĩnh Hải và xã Cù Lao Dung để triển khai mô hình nuôi thủy sản kết hợp, đa dạng hóa loài nuôi, tái sử dụng tuần hoàn nước thông qua hệ thống lắng lọc tự nhiên, sinh học RAS, phù hợp với điều kiện thổ nhưỡng, trình độ kỹ thuật và kinh tế của nông hộ.

Từ những con số sản lượng ấn tượng đến những thách thức cần đối mặt, từ các giải pháp bảo vệ môi trường cơ bản đến những mô hình công nghệ cao như RAS, tất cả đều cho thấy một định hướng rõ ràng: nuôi trồng thủy sản phải bền vững, phải thân thiện với môi trường và phải ứng dụng mạnh mẽ khoa học công nghệ.

Việc ngành thủy sản Cần Thơ phối hợp chặt chẽ với các tổ chức quốc tế, doanh nghiệp và trường đại học đã mang lại những kết quả đáng ghi nhận. 41 mô hình trình diễn, 20 lớp tập huấn, 40 mô hình biogas, hàng loạt hội thảo, hội thảo đầu bờ và các dự án tái chế, chuyển đổi năng lượng tái tạo chính là sự đổi mới sáng tạo không ngừng nghỉ. Những con số năng suất vượt trội từ hệ thống RAS, tỷ lệ sống cao hơn, hệ số chuyển đổi thức ăn thấp hơn và khả năng cải thiện chất lượng thịt tôm là những tín hiệu tích cực, mở ra triển vọng nhân rộng mô hình trên diện rộng.

Hải Đăng

Ý kiến bạn đọc

Tin khác