Tầm nhìn đột phá
Nghị quyết số 202-NQ/ĐU của Ban chấp hành Đảng ủy Cục Thủy sản và Kiểm ngư thể hiện quan điểm chỉ đạo của Đảng ủy Cục Thủy sản và Kiểm ngư xác định đột phá phát triển khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là động lực chính, then chốt và cần thiết để phát triển nhanh và bền vững ngành Thủy sản. Mục tiêu cốt lõi của nhiệm vụ là hiện thực hóa nhiệm vụ xây dựng một ngành Thủy sản phát triển nhanh, bền vững, nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả sản xuất. Để đạt được điều này, toàn bộ hệ thống từ lãnh đạo cấp ủy, chính quyền đến các đơn vị và từng cá nhân cần nhận thức rõ vai trò, trách nhiệm của mình để đạt được sự thống nhất trong hành động.
Cần đổi mới tư duy để tạo đột phá trong xây dựng thể chế, pháp luật, quản lý nhà nước, đồng thời khuyến khích sự tham gia của doanh nghiệp, thúc đẩy thương mại hóa, sở hữu trí tuệ, chuyển giao và ứng dụng thành tựu khoa học công nghệ tiên tiến vào sản xuất, thay đổi nhận thức và hành động trong phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số ngành Thủy sản. Đặc biệt, chú trọng đẩy mạnh hợp tác quốc tế và phát triển hạ tầng, công nghệ số tiến tới đưa vào vận hành các cơ sở dữ liệu (CSDL) quốc gia, chuyên ngành của Cục.
Để đạt được mục tiêu đột phá, Nghị quyết đã xác định rõ ba trụ cột chính cần được củng cố và phát triển đồng thời gồm hoàn thiện thể chế, ứng dụng khoa học công nghệ và chuyển đổi số sâu rộng, và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao.
Hoàn thiện thể chế, chính sách – Tạo lợi thế cạnh tranh cho phát triển
Một trong những nhiệm vụ trọng tâm là hoàn thiện thể chế, chính sách và pháp luật để tạo môi trường thuận lợi nhất cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong ngành Thủy sản. Điều này bao gồm rà soát, sửa đổi, bổ sung kịp thời các luật, văn bản quy phạm pháp luật liên quan, đặc biệt là Luật Thủy sản, các chính sách về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, tài chính công, quản lý tài sản công. Các quy định về quản lý khoa học, công nghệ, đổi mới sáng tạo cần được điều chỉnh linh hoạt, phù hợp với thông lệ quốc tế.
Quá trình này cũng đòi hỏi việc sửa đổi, bổ sung quy trình nội bộ đáp ứng quy định về giao dịch điện tử, thực hiện các biện pháp giải pháp hình hoạt sáng tạo để đẩy mạnh chuyển đổi số trong quản lý nhà nước. Việc rà soát, sắp xếp tổ chức bộ máy, chức năng, nhiệm vụ của các đơn vị thuộc Cục Thủy sản và Kiểm ngư nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số là một bước đi cần thiết để bộ máy hoạt động hiệu quả, tinh gọn hơn.
Xây dựng cơ chế, chính sách cắt giảm và đơn giản hóa thủ tục hành chính về đầu tư trong lĩnh vực khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số để thu hút nguồn lực đầu tư trong phạm vi quản lý của Cục. Phối hợp xây dựng, công bố danh mục các lĩnh vực, công nghệ chiến lược, dự án trọng điểm có tiềm năng thu hút, sử dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, đặc biệt chú trọng Chiến lược phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo lĩnh vực thủy sản đến năm 2030.
Đẩy mạnh khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số
Đây là trái tim của chiến lược đột phá. Nghị quyết yêu cầu tăng cường đầu tư, hoàn thiện hạ tầng cho khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Cần phối hợp xây dựng Chương trình phát triển công nghệ và công nghiệp chiến lược của Bộ, ngành; Danh mục công nghệ chiến lược, dự án trọng điểm thu hút, sử dụng hiệu quả nguồn lực đầu tư cho phát triển, ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Hoạt động nghiên cứu, thử nghiệm, khảo nghiệm, phòng thí nghiệm trong lĩnh vực thủy sản cần được phát triển và nâng cao chất lượng.
Doanh nghiệp đóng vai trò là động lực quan trọng cho sự phát triển của ngành. Thông qua các chính sách ưu đãi, Nghị quyết thống nhất chủ trương tạo điều kiện cho các doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã, hộ kinh doanh đầu tư cho chuyển đổi số, nghiên cứu, ứng dụng khoa học, đổi mới công nghệ để nâng cao năng lực cạnh tranh và hiệu quả sản xuất kinh doanh. Phát triển các chuỗi giá trị sản phẩm thủy sản ứng dụng công nghệ cao, công nghệ mới, và chuyển đổi số. Tham gia chuyển giao tri thức, đào tạo nhân lực thông qua doanh nghiệp FDI trong lĩnh vực Thủy sản. Phối hợp xây dựng chương trình thúc đẩy tiêu dùng sản phẩm, dịch vụ thủy sản trên môi trường số, chuyển giao kết quả nghiên cứu vào sản xuất ở doanh nghiệp, đẩy mạnh sản xuất thông minh, chuyển đổi số trọng điểm thủy sản.
Chuyển đổi số toàn diện là nhiệm vụ mang tính cách mạng, đòi hỏi sự đầu tư lớn và đồng bộ. Đối với hạ tầng số và dữ liệu, cần xây dựng và phát triển nguồn lực dữ liệu quốc gia, CSDL chuyên ngành của Cục; kết nối, chia sẻ, khai thác hiệu quả dữ liệu giữa các cơ quan Bộ và trong toàn hệ thống chính trị. Xây dựng và hoàn thiện hệ thống cơ sở dữ liệu quốc gia về thủy sản, kiểm ngư, cơ sở dữ liệu chuyên ngành, kết nối với Cổng Dịch vụ công quốc gia để phục vụ quản lý, điều hành và cung cấp dịch vụ công trực tuyến. Đặc biệt, chú trọng phát triển CSDL về giống thủy sản, môi trường thủy sản, dịch bệnh và các cơ sở dữ liệu chuyên ngành thuộc phạm vi quản lý của Cục. Xây dựng hệ thống giám sát tàu cá, hệ thống thông tin chỉ huy điều hành kiểm ngư, phòng chống khai thác thủy sản bất hợp pháp, không báo cáo, không theo quy định.
 |
Khuyến khích ứng dụng công nghệ IoT (Internet vạn vật), LoRaWAN trong quản lí môi trường, phòng chống dịch bệnh, và nuôi trồng thủy sản thông minh. Nghiên cứu và ứng dụng các công nghệ mới như trí tuệ nhân tạo (AI), dữ liệu lớn (Big Data), chuỗi khối (Blockchain) trong lĩnh vực thủy sản để quản lý và vận hành hiệu quả hơn. Phát triển các mô hình kinh tế số, xây dựng chính phủ số trong ngành thủy sản, nâng cao hiệu quả quản trị, hiệu lực quản lý nhà nước và an ninh trong lĩnh vực thủy sản. Mục tiêu là đảm bảo 90% thủ tục hành chính liên quan đến doanh nghiệp được thực hiện trực tuyến, tăng cường tính minh bạch, hiệu suất và hiệu quả.
Đẩy mạnh chuyển đổi số và ứng dụng khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo trong hoạt động của các đơn vị; Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý trong lĩnh vực Thủy sản
Nghị quyết đưa ra mục tiêu triển khai Chương trình phát triển Chính phủ số theo kế hoạch của Bộ, tiến tới chuẩn hóa và đơn giản hóa quy trình hành chính, thực hiện cải cách hành chính dựa trên công nghệ số. Tiến hành xây dựng danh mục CSDL dùng chung, danh mục dữ liệu mở, danh mục và kế hoạch phát triển dữ liệu lớn thuộc phạm vi quản lý của Cục. Nâng cao tương tác giữa cơ quan quản lý và người dân, doanh nghiệp thông qua chỉ đạo, điều hành trực tuyến dựa trên dữ liệu. Thúc đẩy số hóa, đẩy mạnh cung cấp dịch vụ công trực tuyến toàn trình, phối hợp xây dựng và triển khai ứng dụng trí tuệ nhân tạo trong phân tích, cảnh báo thiên tai, ứng phó biến đổi khí hậu, bảo vệ môi trường và phòng chống dịch bệnh, tạo điều kiện cho kinh tế thủy sản phát triển bền vững.
Phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao
Con người là yếu tố then chốt để khai thác và phát huy hiệu quả khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Nghị quyết đặt ra yêu cầu nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của Cục và toàn ngành. Cần triển khai chương trình, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và người lao động để đáp ứng yêu cầu về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo, kỹ năng số, công nghệ số. Đẩy mạnh tuyên truyền, quán triệt, phổ biến rộng rãi về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số; xây dựng và phát động phong trào “Học tập số”, “Bình dân học vụ số” để nâng cao kiến thức, kỹ năng cho đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong Cục. Phát động phong trào thi đua đột phát trong phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số, phong trào sáng tạo, cải tiến kỹ thuật nâng cao hiệu quả công tác, hiệu suất công việc trong các đơn vị thuộc Cục. Trọng dụng nguồn nhân lực chất lượng cao, nhân tài đáp ứng yêu cầu phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số của Cục.
Tận dụng cơ hội từ Hợp tác quốc tế
Hợp tác quốc tế là một nhiệm vụ quan trọng để tiếp thu kinh nghiệm, chuyển giao công nghệ và thu hút nguồn lực. Đẩy mạnh hợp tác quốc tế đa phương, song phương với các quốc gia, vùng lãnh thổ, các tổ chức quốc tế, các tập đoàn đa quốc gia, viện nghiên cứu và các trường đại học hàng đầu thế giới về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Tham gia định hình các khuôn khổ, nguyên tắc, quản trị về khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong các cơ chế hợp tác đa phương và tiến tới tham gia các cơ chế, sáng kiến hợp tác khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số. Phối hợp đề xuất hợp tác liên Chính phủ để hỗ trợ phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số trong lĩnh vực thủy sản, tham gia xây dựng các quy tắc, tiêu chuẩn quốc tế và công nghệ mới trong phạm vi quản lý của Cục, thúc đẩy nâng cao năng lực và chuyển giao công nghệ trong các thỏa thuận quốc tế, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên. Phối hợp xây dựng kế hoạch để các chuyên gia Việt Nam tham gia vào các tổ chức quốc tế có liên quan, đặc biệt là các tổ chức khoa học và công nghệ.
Nghị quyết số 202-NQ/ĐU đã thể hiện rõ quyết tâm ưu tiên phát triển khoa học công nghệ, đổi mới sáng tạo và chuyển đổi số nhằm đặt nền móng vững chắc cho một tương lai phát triển bền vững, hiện đại và hội nhập quốc tế của ngành Thủy sản.
Hương Trà