Triển khai Nghị quyết số 71/NQ-CP và Nghị quyết số 214/NQ-CP của Chính phủ cùng Kế hoạch số 434/KH-TCT của Tổ công tác Đề án 06, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã phối hợp cùng các doanh nghiệp như Tập đoàn VNPT, Tập đoàn Viettel tiến hành rà soát, đánh giá toàn diện 60 CSDL quốc gia và chuyên ngành, hạ tầng công nghệ thông tin, hệ thống an ninh bảo mật dữ liệu, nguồn lực tài chính, nhân sự và các thủ tục hành chính, đặc biệt là 26 CSDL trọng yếu nhằm xây dựng chiến lược chuyển đổi số, đồng thời đánh giá hiện trạng, xác định nhu cầu, định hướng và đề xuất giải pháp cho một tương lai số của ngành Nông nghiệp và Môi trường.
Công tác khảo sát nhằm thu thập số liệu phục vụ xây dựng các CSDL, khung quản trị, quản lý dữ liệu, chiến lược chuyển đổi số, chiến lược dữ liệu ngành Nông nghiệp và Môi trường nhằm đáp ứng yêu cầu chuyển đổi số toàn diện trong quản lý nhà nước, bảo vệ môi trường và phát triển bền vững. Ngoài ra, cũng đánh giá hiện trạng chuyển đổi số của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, xác định nhu cầu, mục tiêu và định hướng chuyển đổi số của ngành gắn với các nhiệm vụ được Chính phủ giao, đồng thời đề xuất các giải pháp về chính sách pháp lý, nguồn lực, hạ tầng phục vụ Chuyển đổi số và cải cách hành chính.
Kết quả khảo sát cho thấy trong số 26 CSDL và nền tảng dùng chung được ưu tiên, Bộ đã phân loại thành 4 nhóm. Nhóm thứ nhất là nhóm CSDL/nền tảng dùng chung đã xây dựng và sử dụng được (08 CSDL/nền tảng) bao gồm 04 CSDL quan trọng như Cơ sở dữ liệu nền địa lý quốc gia, Cơ sở dữ liệu viễn thám quốc gia, Cơ sở dữ liệu nghề cá quốc gia (Vnfishbase) và Cơ sở dữ liệu về khai thác sử dụng tài nguyên biển và hải đảo và 04 nền tảng dùng chung gồm Hệ thống Văn phòng điện tử và cơ sở dữ liệu văn bản, hồ sơ, tài liệu, Cổng thông tin điện tử Bộ Nông nghiệp và Môi trường, Hệ thống tư điện tử công vụ của Bộ và Hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu lưu trữ điện tử. Đặc biệt, Vnfishbase đã đi vào vận hành từ năm 2019, hỗ trợ quản lý tàu cá và truy xuất nguồn gốc thủy sản, đã đối soát 82.061 tàu cá với CSDL quốc gia về dân cư. Nhóm thứ hai là các CSDL đã xây dựng nhưng cần hoàn thiện như Cơ sở dữ liệu trồng trọt, Cơ sở dữ liệu về giống cây trồng, Cơ sở dữ liệu rừng, Cơ sở dữ liệu quản lý thuốc bảo vệ thực vật, Cơ sở dữ liệu quản lý mã số vùng trồng xuất khẩu và các CSDL về thức ăn chăn nuôi. Nhóm thứ ba là các CSDL đang trong quá trình xây dựng. Đây là các CSDL xương sống của ngành như Cơ sở dữ liệu quốc gia về đất đai, Cơ sở dữ liệu ngành nông nghiệp, Cơ sở dữ liệu hộ nghèo, hộ cận nghèo, Hệ thống thông tin cơ sở dữ liệu môi trường quốc gia, Cơ sở dữ liệu khí tượng thủy văn quốc gia, Cơ sở dữ liệu nuôi trồng thủy sản, Hệ thống báo cáo thống kê ngành nông nghiệp và môi trường. Nhóm thứ tư là CSDL chưa được xây dựng như Cơ sở dữ liệu báo cáo tiến độ sản xuất ngành trồng trọt.
Về hạ tầng, Bộ đã xây dựng và đưa vào hoạt động Trung tâm tích hợp dữ liệu dùng chung tại Hà Nội đạt chuẩn Tier III, cùng một Trung tâm dự phòng tại Cần Thơ, đảm bảo khả năng xử lý và dự phòng cao. Hệ thống máy chủ ảo hóa đã cấp phát 870 máy chủ với tổng dung lượng lưu trữ vật lý lên tới 2.000 TB. Nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu (LGSP), nền tảng quản trị dữ liệu dùng chung, và nhiều nền tảng số khác đã được triển khai, với gần 18.000 tài khoản điện tử và 11.580 chứng thư số đang hoạt động.
Công tác an ninh, bảo mật dữ liệu cũng được chú trọng với Quy chế bảo đảm an toàn thông tin mạng, hệ thống tường lửa, chống xâm nhập, và hệ thống giám sát an toàn thông tin (SOC) hoạt động, kết nối với Trung tâm Giám sát an toàn không gian mạng quốc gia (NCSC).
Tuy nhiên, vẫn còn những rào cản lớn đang cản trở tiến trình chuyển đổi số của ngành. Vẫn còn thiếu các quy định kỹ thuật, khung quản trị dữ liệu, định mức kinh tế kỹ thuật và đơn giá cụ thể, gây khó khăn trong triển khai dự án. Khả năng kết nối, tích hợp, chia sẻ dữ liệu với các bộ, ngành, địa phương còn hạn chế, chưa thực sự tạo ra giá trị mới. Nhiều CSDL cần điều chỉnh, hoàn thiện để đồng bộ, thống nhất trước những thay đổi hành chính và yêu cầu kỷ nguyên dữ liệu. Hạ tầng số và nền tảng số chưa đáp ứng được yêu cầu ngày càng cao, đặc biệt là các mô hình điện toán đám mây, Big Data, AI hiện đại. Khả năng liên thông quốc gia còn hạn chế và cơ chế phối hợp ứng cứu sự cố chưa kịp thời. Mức độ tuân thủ các tiêu chuẩn quốc tế như ISO/IEC 27001, NIST chưa đầy đủ. Nguồn kinh phí cho xây dựng, hoàn thiện CSDL và an toàn thông tin còn hạn chế, quy trình đề xuất, phê duyệt phức tạp, chưa có cơ chế xã hội hóa mạnh mẽ để huy động doanh nghiệp.Đặc biệt là thiếu hụt nghiêm trọng nhân lực CNTT, đặc biệt là chuyên gia về an toàn thông tin, Big Data, AI. Kỹ năng số của công chức, viên chức chưa đồng đều, công tác đào tạo, bồi dưỡng chưa thường xuyên, và chế độ đãi ngộ còn hạn chế dẫn đến tình trạng chuyển việc, bỏ việc đáng báo động. Mô hình quản trị dữ liệu chưa rõ ràng, cơ chế phối hợp giữa trung ương và địa phương còn khó khăn. Mặc dù đã có đề xuất cắt giảm 254 thành phần hồ sơ trong tổng số 2986 thành phần nhưng các thủ tục hành chính vẫn còn phức tạp, chưa khai thác triệt để CSDL để đơn giản hóa.
Để khắc phục những tồn tại trên, Bộ Nông nghiệp và Môi trường đã kiến nghị Bộ Công an và Tổ công tác Đề án 06 thống nhất, hướng dẫn ban hành yêu cầu kỹ thuật và trường thông tin cụ thể cho từng CSDL, đồng thời đề xuất đồng bộ dữ liệu về một đầu mối của Bộ Công an để tránh trùng lặp. Cùng với các nỗ lực của Chính phủ, các địa phương cũng được yêu cầu quan tâm bố trí nguồn lực, khẩn trương rà soát, hoàn thiện, chuẩn hóa CSDL của địa phương để kết nối đồng bộ với CSDL quốc gia và chuyên ngành theo quy định.
Hương Trà