Xét theo vùng lãnh thổ, châu Á là thị trường xuất khẩu lớn nhất của các mặt hàng nông lâm thủy sản của Việt Nam với thị phần chiếm 44,7%. Hai thị trường lớn tiếp theo là châu Mỹ và châu Âu với thị phần lần lượt là 22,7% và 13,8%. Thị phần của hai khu vực châu Phi và châu Đại Dương chiếm lần lượt 3% và 1,4%. So với cùng kỳ năm trước, ước giá trị xuất khẩu nông lâm thủy sản của Việt Nam 10 tháng năm 2025 sang khu vực châu Á tăng 4,9%; châu Mỹ tăng 8,3%; châu Âu tăng 37,5%; châu Phi tăng 83,6%; và châu Đại Dương tăng 6,8%.
Xét theo thị trường chi tiết, Trung Quốc với thị phần 21,4%, Hoa Kỳ với thị phần 20,4%, và Nhật Bản với thị phần 7%, là 3 thị trường xuất khẩu các mặt hàng nông lâm thủy sản lớn nhất của Việt Nam. So với cùng kỳ năm trước, ước giá trị xuất khẩu nông lâm thủy sản sang thị trường Trung Quốc tăng 12%, Hoa Kỳ tăng 6,2%, và Nhật Bản tăng 20,4%.
Đối với lĩnh vực thủy sản, số liệu thống kê từ Trang Thông tin điện tử Cục Thống kê cho thấy, tháng 10/2025, nuôi trồng thủy sản phát triển ổn định, trong đó nuôi cá tra và tôm nước lợ phát triển khá; đáp ứng nhu cầu xuất khẩu cuối năm. Tính chung 10 tháng năm 2025, sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 4.879,6 nghìn tấn, tăng 5,1% so với cùng kỳ năm trước; trong đó cá tra đạt 1.528,7 nghìn tấn, tăng 4,5%; tôm sú đạt 237,8 nghìn tấn, tăng 3,6%; tôm thẻ chân trắng đạt 823,8 nghìn tấn, tăng 7,1%.
Thủy sản luôn khẳng định vai trò của ngành kinh tế mũi nhọn
Thủy sản là một trong những ngành kinh tế mũi nhọn của Việt Nam. Ngành Thủy sản đóng góp quan trọng vào kim ngạch xuất khẩu, tạo việc làm và thu nhập cho hàng triệu người lao động vùng ven biển, vùng Đồng bằng sông Cửu Long và nhiều địa phương khác. Quý III năm 2025, ngành thủy sản tiếp tục đối diện nhiều biến động từ bối cảnh quốc tế, nhu cầu thị trường mặc dù phục hồi nhưng còn tiềm ẩn rào cản kỹ thuật và thương mại, cạnh tranh gia tăng, chi phí sản xuất đầu vào và yêu cầu chất lượng ngày càng cao. Trong bối cảnh đó, ngành thủy sản đã ghi nhận nhiều tín hiệu tích cực, khả quan đối với tăng trưởng kinh tế.
Tổng sản lượng thủy sản quý III năm 2025 ước đạt 2.710,9 nghìn tấn, tăng 3,3% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 1.830,1 nghìn tấn, tăng 2,6%; tôm đạt 498,8 nghìn tấn, tăng 5,8%. Tính chung chín tháng năm 2025, sản lượng thủy sản ước đạt 7.261,8 nghìn tấn, tăng 3,2% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 5.111,9 nghìn tấn, tăng 2,8%; tôm đạt 1104,3 nghìn tấn, tăng 5,7%. Kim ngạch xuất khẩu thủy sản quý III năm 2025 đạt 3.005,6 triệu USD, tăng 6,7% so với cùng kỳ năm trước. Tính chung chín tháng năm 2025, xuất khẩu thủy sản ước đạt 8.116,2 triệu USD, tăng 12,3% so với cùng kỳ năm trước.
 |
Sản lượng thủy sản nuôi trồng quý III năm 2025 ước đạt 1.705,1 nghìn tấn, tăng 5,5% so với cùng kỳ năm trước, trong đó: Cá đạt 1.041,5 nghìn tấn, tăng 4,8%; tôm đạt 465,3 nghìn tấn, tăng 6,3%. Tính chung chín tháng năm 2025, sản lượng thủy sản nuôi trồng ước đạt 4.284,3 nghìn tấn, tăng 5,1% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 2.791,0 nghìn tấn, tăng 4,8%; tôm đạt 998,8 nghìn tấn, tăng 6,3%. Sản lượng thủy sản khai thác chín tháng năm 2025 ước đạt 2.977,5 nghìn tấn, tăng 0,5% so với cùng kỳ năm trước, bao gồm: Cá đạt 2.321,0 nghìn tấn, tăng 0,5%; tôm đạt 105,5 nghìn tấn, tăng 0,2%; thủy sản khác đạt 551,0 nghìn tấn, tăng 0,6%. Đặc biệt ở các mặt hàng chủ lực như tôm và cá tra:
Sản lượng cá tra quý III năm 2025 ước đạt 469,3 nghìn tấn, tăng 4,8% so với cùng kỳ năm trước; tính chung chín tháng năm 2025 ước đạt 1.341,2 nghìn tấn, tăng 4,6% so với cùng kỳ năm trước. Xuất khẩu cá tra trong quý III năm 2025 tại các thị trường đã ký kết Hiệp định đối tác toàn diện và tiến bộ xuyên Thái Bình Dương (CPTPP), có chiều hướng khả quan nhờ ưu đãi thuế quan và nhu cầu ổn định từ các thị trường Nhật Bản, Ca-na-đa, Mê-xi-cô, Chi-lê. Xuất khẩu cá tra sang một số thị trường tiếp tục ghi nhận tăng trưởng 2 con số, trong 8 tháng năm 2025 xuất khẩu cá tra sang khối CPTPP đạt 242 triệu USD, tăng 36% so với cùng kỳ; thị trường Nam Mỹ, đặc biệt là Bra-xin với 118 triệu USD, tăng 54% so với cùng kỳ.
Sản lượng tôm thẻ chân trắng quý III năm 2025 ước đạt 352,8 nghìn tấn, tăng 6,9% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng tôm sú đạt 87,2 nghìn tấn, tăng 3,5%. Tính chung chín tháng năm 2025, sản lượng tôm thẻ chân trắng đạt 719,7 nghìn tấn, tăng 7,1% so với cùng kỳ năm trước; sản lượng tôm sú đạt 212,3 nghìn tấn, tăng 3,5%.
Tháo gỡ khó khăn, duy trì đà tăng trưởng
Bên cạnh những điểm sáng, ngành thủy sản vẫn tồn tại một số hạn chế, thách thức cần tháo gỡ để duy trì đà tăng trưởng ổn định. Cụ thể, vấn đề thuế chống bán phá giá, thuế đối ứng 20% đối với hàng xuất khẩu của Việt Nam tại thị trường Mỹ là áp lực lớn, nhiều doanh nghiệp có thể đối diện với mức thuế cao hoặc bị điều tra lại.
Từ ngày 01/01/2026, nếu nghề khai thác cá không được công nhận tương đương theo Đạo luật Bảo vệ động vật có vú biển (MMPA), có thể bị cấm nhập khẩu sang Mỹ. Điều này đe dọa hàng trăm triệu USD kim ngạch xuất khẩu. Việt Nam vẫn đang chịu “thẻ vàng” IUU từ Liên minh châu Âu (EU), nếu không được gỡ bỏ sẽ ảnh hưởng đến uy tín, chi phí và mức độ kiểm tra khắt khe hơn cho hàng xuất khẩu; các quy định kỹ thuật, an toàn thực phẩm, dư lượng hóa chất, việc truy xuất nguồn gốc ngày càng khắt khe ở các thị trường phát triển (EU, Mỹ, Nhật), nếu doanh nghiệp không đáp ứng tốt sẽ bị loại lô hàng hoặc chi phí tuân thủ cao hơn.
Hiện tại, các nước xuất khẩu thủy sản khác (Thái Lan, Ấn Độ, In-đô-nê-xi-a, Ê-cua-đo…) đang cạnh tranh mạnh về giá, chi phí và cải thiện chất lượng tạo áp lực cho thủy sản Việt Nam. Sự phụ thuộc lớn vào một số thị trường truyền thống (Mỹ, Trung Quốc, EU) khiến thuỷ sản Việt dễ bị ảnh hưởng bởi biến động chính sách thương mại, tỷ giá, logistics hoặc rủi ro phi thuế quan tại những thị trường này.
Cùng với đó, thực trạng biến đổi khí hậu, thời tiết bất thường, ô nhiễm môi trường có thể ảnh hưởng tới sản lượng nuôi thủy sản, chất lượng nguyên liệu, dịch bệnh đây là rủi ro cố hữu của ngành nuôi trồng thuỷ sản, cùng với đó chi phí nguyên liệu đầu vào, thức ăn thủy sản, năng lượng, logistics tiếp tục gia tăng, làm giảm biên lợi nhuận của doanh nghiệp, áp lực cạnh tranh nguồn nguyên liệu, nếu Việt Nam không đảm bảo chủ động sẽ dễ bị chi phối bởi biến động nguồn cung.
Năm 2025 là năm bản lề để ngành thủy sản Việt Nam định hình rõ hướng đi bền vững, từ tăng trưởng về lượng sang phát triển về chất, nâng cao giá trị gia tăng, củng cố vị thế trên thị trường quốc tế và tạo dựng nền tảng vững chắc cho các giai đoạn phát triển sau này.
Kỳ vọng những tháng cuối năm 2025
Ngành thủy sản Việt Nam đang có nền tảng khá vững khi kim ngạch xuất khẩu 9 tháng đã vượt mốc 8 tỷ USD, tăng trưởng 6,7% so với cùng kỳ năm 2024. Với đà tăng này, dự báo xuất khẩu thủy sản cả năm 2025 có thể cán mốc 9 tỷ đến 10 tỷ USD. Quý IV thường là giai đoạn cao điểm nhập khẩu thủy sản ở các thị trường lớn để phục vụ mùa lễ hội cuối năm. Đây là cơ hội lớn để doanh nghiệp Việt Nam bứt phá, gia tăng đơn hàng xuất khẩu và khẳng định vị thế.
Trong bối cảnh rủi ro phụ thuộc vào Mỹ và EU, nhiều doanh nghiệp đã tăng tốc khai thác các thị trường mới như ASEAN, Trung Đông, Nam Mỹ và khối CPTPP. Xu hướng tiêu dùng thực phẩm thủy sản chế biến sẵn, giàu dinh dưỡng ở các thị trường này đang tăng nhanh. Việc tận dụng tốt các hiệp định thương mại tự do (CPTPP, EVFTA, RCEP) sẽ mở ra biên độ tăng trưởng bền vững hơn, đồng thời giảm rủi ro khi thị trường truyền thống siết chặt các rào cản kỹ thuật.
Những tháng cuối năm 2025, nhu cầu các sản phẩm thủy sản chế biến sẵn, tiện lợi, đáp ứng tiêu chuẩn “xanh – sạch – truy xuất được nguồn gốc” sẽ tăng cao. Doanh nghiệp Việt nếu tận dụng cơ hội này để đưa ra sản phẩm phù hợp với thị hiếu từng thị trường sẽ nâng cao giá trị gia tăng, cải thiện biên lợi nhuận thay vì cạnh tranh thuần túy bằng giá.
Chính phủ và các hiệp hội ngành hàng đang đẩy mạnh nỗ lực gỡ “thẻ vàng” IUU, đồng thời thúc đẩy đàm phán thương mại và hỗ trợ doanh nghiệp vượt qua các vụ kiện chống bán phá giá. Các chính sách hỗ trợ về tín dụng, cải thiện hạ tầng logistics, phát triển vùng nuôi nguyên liệu an toàn, bền vững cũng được kỳ vọng phát huy tác dụng từ cuối năm 2025, tạo môi trường thuận lợi cho xuất khẩu.
Xu hướng tiêu dùng trên thế giới đang dịch chuyển mạnh sang thực phẩm an toàn, thân thiện môi trường, có chứng chỉ bền vững (ASC, MSC, GlobalG.A.P.). Việt Nam có cơ hội tận dụng xu hướng này để nâng cao thương hiệu quốc gia. Nếu doanh nghiệp đẩy nhanh áp dụng công nghệ nuôi trồng tiên tiến, quản lý môi trường và hệ thống chứng nhận quốc tế, sản phẩm thủy sản Việt Nam sẽ có lợi thế cạnh tranh vượt trội.
Nhìn chung, ngành thủy sản Việt Nam đã ghi nhận nhiều kết quả tích cực trong sản xuất và xuất khẩu, nhu cầu tiêu dùng phục hồi tại nhiều thị trường lớn và sự vươn lên của các mặt hàng chủ lực đã khẳng định khả năng thích ứng nhanh của doanh nghiệp Việt Nam trước bối cảnh thị trường toàn cầu còn nhiều biến động.
Ngọc Thúy - FICen