Phát triển kinh tế - xã hội vùng Đồng bằng sông Cửu Long (26-10-2021)

Ngày 26/10/2021, Thứ trưởng Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn Trần Thanh Nam đã chủ trì Hội nghị tổng kết Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 20/01/2003 và Kết luận số 28-KL/TW ngày 14/8/2012 của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng an ninh vùng Đồng bằng sông Cửu Long (ĐBSCL).
Phát triển kinh tế - xã hội vùng Đồng bằng sông Cửu Long

Cụ thể: Thực hiện ý kiến chỉ đạo của Ban Kinh tế Trung ương, Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn đã tổ chức Hội nghị trực tuyến tại điểm cầu Hà Nội và nhiều điểm cầu khác của các Bộ, ngành, địa phương để tổng kết Nghị quyết số 21-NQ/TW ngày 20/01/2003 của Bộ Chính trị khóa IX (Nghị quyết 21) về phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng ĐBSCL thời kỳ 2001-2010; Kết luận số 28-KL/TW, ngày 14/8/2012 của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ, giải pháp phát triển kinh tế - xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng ĐBSCL thời kỳ 2011-2020. Qua đó, đánh giá những kết quả đã đạt được; làm rõ những tồn tại, hạn chế; xác định nguyên nhân và rút ra các bài học kinh nghiệm trong 10 năm tổ chức thực hiện; đồng thời đề ra các nhiệm vụ, giải pháp phát triển nông nghiệp, nông thôn đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Nông nghiệp liên tục tăng trưởng với tốc độ cao

Nhờ khai thác có hiệu quả tiềm năng và lợi thế của vùng, trong thời gian qua, nông nghiệp ĐBSCL đã phát triển vượt bậc và đạt được nhiều thành tựu quan trọng, đưa ĐBSCL thành vùng nông nghiệp chiến lược của Việt Nam, góp phần phát triển kinh tế - xã hội và xóa đói giảm nghèo.

Nông nghiệp ĐBSCL đã đóng góp trung bình 33,54% GDP nông nghiệp cả nước và 30% GDP chung của vùng trong giai đoạn 2004-2020. Tốc độ tăng trưởng bình quân GDP nông nghiệp ĐBSCL giai đoạn này đạt 4,6% cao hơn tốc độ tăng trưởng của cả nước (3,76%). Năm 2020, giá trị sản xuất nông, lâm nghiệp và thủy sản của vùng chiếm 45,08% cả nước với tốc độ tăng bình quân 4,17%/năm và tăng ở cả 3 lĩnh vực thủy sản, nông nghiệp và lâm nghiệp. ĐBSCL luôn đứng đầu cả nước về sản lượng gạo, tôm nước lợ, cá tra và trái cây, với 24,51 triệu tấn gạo (chiếm 56% tổng sản lượng của cả nước), 671,7 nghìn tấn tôm (83,51%), 1,41 triệu tấn cá tra (chiếm 98%) và 4,3 triệu tấn trái cây (chiếm 60%).

Thuỷ sản ĐBSCL phát triển mạnh và là vùng có sản lượng và giá trị lớn nhất cả nước. Cơ cấu sản xuất thuỷ sản chuyển biến theo hướng tích cực là tăng tỷ trọng nuôi trồng và giảm tỷ trọng khai thác thủy sản. Từ năm 2004 đến năm 2020, giá trị sản xuất ngành thủy sản đã tăng từ 15.785 tỷ đồng (giá so sánh năm 2010) lên 57.762 tỷ đồng; tốc độ tăng bình quân đạt 11,1%.

Nuôi trồng thủy sản phát triển mạnh, thành một ngành sản xuất đem lại hiệu quả kinh tế cao, làm thay đổi cơ cấu kinh tế vùng ĐBSCL, góp phần giải quyết việc làm, xóa đói giảm nghèo. Diện tích nuôi trồng thuỷ sản tăng nhanh từ 659 ngàn ha năm 2004 đến năm 2020 là 806 ngàn ha, tốc độ tăng bình quân là 2,6%. Sản lượng nuôi trồng thuỷ sản liên tục tăng từ 1.622 ngàn tấn năm 2004 lên 3.215 ngàn tấn năm 2020 (tăng 1,98 lần). Các sản phẩm trong vùng khá đa dạng, trong đó sản phẩm chính là cá tra và tôm sú.

Nuôi cá tra vùng ĐBSCL là một thế mạnh của vùng. Năm 2020 diện tích nuôi cá tra là 5.700 ha và sản lượng đạt 1,56 triệu tấn, kim ngạch xuất khẩu đạt 1,54 tỷ USD. Năm 2020, nuôi tôm nước lợ vùng ĐBSCL đạt khoảng 742 nghìn ha chiếm 92,6% diện tích nuôi tôm nước lợ của cả nước, sản lượng đạt khoảng 782 ngàn tấn chiếm 84,2% sản lượng nuôi của cả nước. Kim ngạch xuất khẩu tôm đạt 3,37 tỷ USD, trong đó ĐBSCL đóng góp hơn 80%.

Không chỉ nuôi trồng, khai thác thủy sản cũng là thế mạnh của vùng ĐBSCL. Năm 2020 sản lượng khai thác trong vùng là 1,48 triệu tấn, chiếm 40,4% tổng sản lượng khai thác thủy sản cả nước. Tốc độ tăng sản lượng khai thác bình quân giai đoạn 2004-2020 là 2%. Tổng số tàu thuyền khai thác năm 2020 là 24.194 chiếc, tàu thuyền máy chiếm 50%, số tàu thuyền khai thức xa bờ là 10.022 chiếc (chiếm 32,2% tổng số tàu cá hoạt động vùng khơi của cả nước).

Đời sống người dân nông thôn được nâng cao

Điều kiện sinh hoạt  được cải thiện một bước đáng kể. Các địa phương khu vực ĐBSCL đã có hướng tiếp cận phù hợp khi tập trung, ưu tiên phát triển các sản phẩm truyền thống, sản phẩm đặc trưng, gắn với lợi thế của các vùng nguyên liệu tập trung như: trái cây, thủy sản và lúa gạo để phát triển các sản phẩm đặc sắc, mang sắc thái vùng ĐBSCL (gần 86% sản phẩm OCOP của vùng là thực phẩm, đặc biệt đã có 7 sản phẩm OCOP thuộc Nhóm dịch vụ du lịch cộng đồng và Điểm du lịch, đứng thứ 2 cả nước sau vùng miền núi phía Bắc). Nhiều tỉnh trong vùng nằm trong nhóm dẫn đầu cả nước về phát triển sản phẩm OCOP như: Đồng Tháp, Sóc Trăng, Bến Tre… Góp phần nâng cao vị thế của các sản phẩm OCOP vùng ĐBSCL trên phạm vi cả nước, từng bước hướng tới thị trường xuất khẩu. 

Cơ sở hạ tầng được tăng cường

Cơ sở hạ tầng tăng cường đã góp phần thúc đẩy sản xuất phát triển và đổi mới bộ mặt nông thôn. Trong những năm qua, Đảng, Chính phủ đã dành mối quan tâm to lớn cho công tác phát triển thuỷ lợi phục vụ cấp nước, tiêu nước, kiểm soát lũ, ngăn mặn nhằm đáp ứng nhu cầu phát triển kinh tế - xã hội vùng ĐBSCL.

Ngoài ra Bộ Nông nghiệp và PTNT đã phê duyệt đề án cá tra 3 cấp nhằm sản xuất để cung cấp đủ cá tra giống có chất lượng tốt phục vụ nuôi cá tra, một sản phẩm chủ lực của vùng ĐBSCL; Đề án phát triển nuôi trồng thủy sản bền vững vùng ĐBSCL đến năm 2030 trên cơ sở định hướng của Chính phủ tại Nghị quyết số 120/NQ-CP ngày 17/11/2017 của Chính phủ về phát triển bền vững ĐBSCL thích ứng với biến đổi khí hậu (BĐKH). Đề án đã tập trung giải quyết những vấn đề tồn tại trong tổ chức sản xuất, cải tiến kỹ thuật, đầu tư cơ sở hạ tầng …nhằm chủ động ứng phó và thích ứng với BĐKH, khai thác và tận dụng những mối nguy từ nước biển dâng và xâm nhập mặn thành cơ hội phát triển, nâng cao giá trị sản xuất, giảm áp lực đối với khai thác, bảo vệ nguồn lợi thủy sản và môi trường.

Có chính sách hỗ trợ áp dụng quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt

Để hỗ trợ cho nông dân sản xuất nông nghiệp áp dụng quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 01/2012/QĐ-TTg ngày 09/01/2012 về một số Chính sách hỗ trợ việc áp dụng Quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt trong nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản. Về phía Bộ Nông nghiệp và PTNT cũng đã ban hành Thông tư số 53/2012/TT-BNNPTNT ban hành danh mục sản phẩm nông nghiệp, thủy sản được hỗ trợ theo Quyết định số 01/2012/QĐ-TTg ngày 09/01/2012 của Thủ tướng Chính phủ về một số chính sách hỗ trợ việc áp dụng Quy trình thực hành sản xuất nông nghiệp tốt trong nông nghiệp, lâm nghiệp và thủy sản. Thông qua chính sách này, nhiều doanh nghiệp, hợp tác xã, người dân đã được hỗ trợ đối với các quy trình sản xuất nông nghiệp tốt đem lại hiệu quả cao.

Có chính sách phát triển giống cây trồng, vật nuôi, thủy sản

Ngày 25/12/2009, Thủ tướng Chính phủ đã ban hành Quyết định số 2194/QĐ-TTg phê duyệt đề án phát triển giống cây nông, lâm nghiệp, giống vật nuôi và giống thủy sản đến năm 2020. ĐBSCL đang phát triển 3 sản phẩm nông nghiệp chính là lúa gạo, cây ăn quả và thủy sản (cá tra, tôm nước lợ); phấn đấu đến năm 2025, xác định được bộ giống tốt nhất cho 3 ngành hàng chủ lực này; đến năm 2030, làm chủ nguồn giống trong nước có chất lượng, năng suất, hiệu quả thích ứng với BĐKH.

Hiện nay trong vùng có khoảng 5.700 ha nuôi cá tra, sản lượng nuôi 1,5 triệu tấn. Tuy vậy, giống cá tra sản xuất trong nước mới chỉ đáp ứng khoảng 40-45% nhu cầu, còn lại khoảng 55-60% giống cá tra nuôi chưa kiểm chứng được chất lượng do không kiểm soát được đàn cá tra bố mẹ. Diện tích nuôi tôm nước lợ vùng ĐBSCL hiện có khoảng 742 ngàn ha, chiến 92,9% diện tích cả nước. Toàn vùng có 1.278 cơ sở sản xuất tôm giống, đáp ứng được 48,3% nhu cầu thả nuôi, số giống còn thiếu được cung cấp từ các tỉnh Nam Trung Bộ, chưa chủ động sản xuất, chọn tạo được tôm bố mẹ.

Nhìn chung, chương trình phát triển kinh tế - xã hội vùng Đồng bằng sông Cửu Long đã đạt được nhiều thành tựu đáng ghi nhận

Thu nhập trên mỗi ha đất sản xuất nông nghiệp tăng từ 20,2 triệu đồng/ha năm 2001 lên gần 38 triệu đồng/ha năm 2010. Thu nhập bình quân đầu người từ nông lâm thủy sản tăng từ 390 nghìn/tháng năm 2010 lên 764 nghìn/tháng năm 2020. Sản xuất lúa, trái cây, nuôi trồng thủy sản cũng đạt được nhiều tiến bộ, đã hình thành các mô hình tập trung chuyên canh lúa, cây ăn trái và thủy sản, áp dụng công nghệ cao, tạo ra khối lượng hàng hóa lớn, tăng lợi thế cạnh tranh trên thương trường quốc tế. Sản lượng lúa tăng từ 18.567 nghìn tấn năm 2004 lên 23.819 nghìn tấn năm 2020, sản lượng thủy sản tăng từ 1.622 nghìn tấn lên 4.698 nghìn tấn năm 2020, sản lượng trái cây từ 3.746 nghìn tấn năm 2010 tăng lên 4.736 nghìn tấn năm 2020 (Tổng cục Thống kê). Các sản phẩm lúa gạo, trái cây, thủy sản của vùng đã xuất khẩu đi hàng loạt các thị trường khó tính như Mỹ, Châu Âu, Nhật Bản, Hàn Quốc…Chăn nuôi gia súc gia cầm cũng được chuyển dịch theo hướng từ chăn nuôi nhỏ lẻ, phân tán sang chăn nuôi tập trung, quy mô trang trại áp dụng khoa học kỹ thuật, tăng hiệu quả kinh tế.

Tuy nhiên, bên cạnh đó vẫn còn có một số hạn chế

Vùng đang dần mất đi những lợi thế phát triển, quá trình phát triển đang chậm lại so với nhiều vùng khác. Lĩnh vực nông nghiệp vốn có lợi thế nhưng chưa phát huy hết tiềm năng... Các dự báo về thị trường ở trên cho thấy ĐBSCL có cơ hội rộng lớn để mở rộng thị trường cho các sản phẩm mà ĐBSCL có lợi thế, đặc biệt là các cơ hội cho các sản phẩm chế biến, giá trị gia tăng cao vào các thị trường cao cấp. Sản phẩm tôm, cá tra, trái cây có cơ hội lớn nhất. Tôm có tiềm năng tiếp tục mở rộng ra thị trường, dự báo sẽ thiếu hụt hơn 1 triệu tấn năm 2030, với các thị trường lớn là Nhật, Châu Âu, Hoa Kỳ. Cá tra có thị trường lớn là Châu Âu, Hoa Kỳ, Trung Quốc và các thị trường mới nổi như châu Á, Nam Mỹ và châu Phi. Trái cây có tiềm năng mở rộng cả thị trường trong nước và quốc tế, cả về trái cây tươi và sản phẩm đã qua chế biến. Sản phẩm gạo tuy nhu cầu trong nước và thế giới có xu hướng giảm nhưng thị trường gạo chất lượng cao vẫn còn rộng mở như Châu Âu, Nhật Bản. Bên cạnh đó, thị trường Trung Quốc rộng lớn vẫn là cơ hội lớn cho nông sản Việt Nam.

Sau khi đúc rút 07 nhóm bài học kinh nghiệm, Bộ Nông nghiệp và PTNT đã đề ra mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp phát triển nông nghiệp, nông thôn vùng ĐBSCL đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045: Tăng giá trị gia tăng và tính thích ứng nhờ ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ tiên tiến nhất; Chuyển đổi cơ cấu hiệu quả hơn từ BĐKH và nước biển dâng; Gia tăng nguồn lực, động lực phát triển nhờ các hoạt động phát triển nội tại; Quan điểm là tôn trọng quy luật tự nhiên, tránh can thiệp quá mức vào tự nhiên, xác định BĐKH và các mặt trái của những tác động trong quá trình phát triển kinh tế là một thực tế không thể thay đổi để chủ động và tích cực thích ứng.

Ngọc Thúy - FICen

Ý kiến bạn đọc

Tin khác