Quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm và phát triển thị trường cá tra (07-01-2026)

Cá tra là một trong những ngành hàng thủy sản chiến lược của Việt Nam, đóng vai trò quan trọng trong cơ cấu xuất khẩu nông nghiệp và sinh kế của hàng trăm nghìn lao động tại Đồng bằng sông Cửu Long. Trong bối cảnh các thị trường nhập khẩu ngày càng gia tăng yêu cầu về an toàn thực phẩm, truy xuất nguồn gốc và chất lượng sản phẩm, công tác quản lý chuỗi sản xuất, kiểm soát an toàn thực phẩm và phát triển thị trường cá tra trở thành nhiệm vụ trọng tâm của ngành thủy sản. Báo cáo về hiện trạng quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm và phát triển thị trường sản phẩm cá tra của Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường, đã phản ánh toàn diện thực trạng quản lý chuỗi cá tra từ nuôi trồng, thu hoạch, chế biến đến tiêu thụ; đồng thời nêu ra những kết quả đạt được, tồn tại, hạn chế và định hướng giải pháp trong giai đoạn tới .
Quản lý chất lượng, an toàn thực phẩm và phát triển thị trường cá tra

Quản lý chuỗi sản xuất cá tra và giám sát an toàn thực phẩm từ khâu nuôi trồng

Theo Cục Chất lượng, Chế biến và Phát triển thị trường (NAFIQPM), chuỗi sản xuất cá tra được quản lý xuyên suốt từ khâu nuôi trồng, thu hoạch – vận chuyển, chế biến đến tiêu thụ, trong đó an toàn thực phẩm là trục xuyên suốt ở tất cả các công đoạn. Ở khâu nuôi trồng, công tác quản lý tập trung vào các yếu tố then chốt như giống, nguồn nước, tác nhân ô nhiễm, thức ăn, hóa chất và kháng sinh sử dụng trong quá trình sản xuất. Việc kiểm soát chặt chẽ các yếu tố này có ý nghĩa quyết định đối với chất lượng và an toàn của sản phẩm cá tra thương phẩm cũng như khả năng đáp ứng yêu cầu của thị trường xuất khẩu .

Theo báo cáo, hoạt động giám sát an toàn thực phẩm trong nuôi cá tra được triển khai thường xuyên và có quy mô lớn. Trong giai đoạn 2022 – 2025, chương trình giám sát được thực hiện tại 34 vùng nuôi thuộc 11 tỉnh, với số lượng mẫu giám sát dao động từ 777 đến 1.147 mẫu mỗi năm. Riêng năm 2024, số mẫu giám sát đạt 1.147 mẫu và trong 11 tháng năm 2025 là 1.025 mẫu, cho thấy xu hướng tăng cường kiểm soát, mở rộng phạm vi và tần suất giám sát so với các năm trước.

Các chỉ tiêu giám sát tập trung vào những nhóm nguy cơ chính, bao gồm chất kích thích tăng trưởng, kháng sinh cấm, kháng sinh hạn chế sử dụng, thuốc trừ giun sán và ký sinh trùng, thuốc bảo vệ thực vật gốc chlor hữu cơ, thuốc trừ sâu như fipronil và chlorpyrifos, kim loại nặng, cũng như thuốc trị nấm và bệnh ngoài da. Đối tượng giám sát bao gồm cả cá tra thương phẩm và cá tra bột, qua đó giúp phát hiện sớm nguy cơ mất an toàn thực phẩm ngay từ giai đoạn đầu của chuỗi sản xuất .

Kết quả giám sát dư lượng hóa chất và kháng sinh cho thấy tỷ lệ mẫu vi phạm có xu hướng giảm rõ rệt trong những năm gần đây. Nếu như năm 2020, tỷ lệ mẫu vi phạm ở mức 1,7% thì đến năm 2023 giảm xuống còn 0,77%, năm 2024 là 0,78% và 11 tháng năm 2025 chỉ còn 0,29%. Các chỉ tiêu vi phạm chủ yếu được ghi nhận liên quan đến enrofloxacin, ciprofloxacin, ofloxacin, ivermectin và leucomalachite green. Xu hướng giảm tỷ lệ vi phạm phản ánh hiệu quả của các biện pháp quản lý, tuyên truyền và giám sát, song báo cáo cũng lưu ý rằng tình trạng sử dụng hóa chất, kháng sinh cấm vẫn chưa được xử lý triệt để ở một số cơ sở nuôi nhỏ lẻ .

Kiểm soát an toàn thực phẩm trong thu hoạch, chế biến và xuất khẩu cá tra

Ở công đoạn thu hoạch và vận chuyển, Cục NAFIQPM nhấn mạnh yêu cầu kiểm soát an toàn thực phẩm thông qua việc các ghe vận chuyển phải ký cam kết bảo đảm an toàn thực phẩm theo quy định tại Thông tư 17/2018/TT-BNNPTNT. Đối với thị trường Hoa Kỳ, toàn bộ quá trình thu hoạch và vận chuyển cá tra được kiểm soát trong khuôn khổ Chương trình kiểm soát cá da trơn theo Quyết định 1802/QĐ-BNN-QLCL, bảo đảm tính tương thích với yêu cầu của cơ quan thẩm quyền Hoa Kỳ. Đối với các thị trường khác, doanh nghiệp phải xây dựng và thực hiện các biện pháp kiểm soát phù hợp, được cơ quan quản lý thẩm tra trong quá trình thẩm định điều kiện an toàn thực phẩm và chứng nhận lô hàng xuất khẩu .

Trong lĩnh vực chế biến, báo cáo của Cục NAFIQPM cho biết hệ thống quản lý an toàn thực phẩm tại các cơ sở chế biến cá tra được xây dựng dựa trên nhiều trụ cột, bao gồm áp dụng HACCP, chứng nhận đủ điều kiện an toàn thực phẩm, sử dụng nguyên liệu bảo đảm an toàn theo chuỗi, đáp ứng quy chuẩn kỹ thuật QCVN 02-27, tham gia các chương trình xuất khẩu và chương trình giám sát cá da trơn. Đây là nền tảng quan trọng giúp nâng cao mức độ tuân thủ và đồng bộ hóa hệ thống quản lý chất lượng trong toàn ngành .

Tính đến năm 2025, cả nước có 183 cơ sở chế biến cá tra đủ điều kiện xuất khẩu, với các thị trường chính bao gồm Trung Quốc, Hoa Kỳ, Liên minh châu Âu, Nga, Braxin và khu vực ASEAN. So sánh giai đoạn 2023 – 2025 cho thấy số cơ sở đủ điều kiện xuất khẩu có xu hướng ổn định, song số cơ sở được phép xuất khẩu sang từng thị trường cụ thể có sự biến động nhất định, phản ánh sự điều chỉnh theo yêu cầu và rào cản kỹ thuật của từng thị trường nhập khẩu .

Báo cáo cũng đưa ra số liệu chi tiết về các lô hàng cá tra bị cảnh báo tại thị trường nhập khẩu. Trong 11 tháng năm 2025, có 24 lô hàng cá tra bị cảnh báo, trong đó 6 mẫu liên quan đến chỉ tiêu vi sinh như E. coli, Salmonella và Listeria, còn lại 18 mẫu liên quan đến chỉ tiêu chất lượng như nhiệt độ bảo quản, pH và độ ẩm. So với các năm trước, số lượng cảnh báo có xu hướng giảm, tuy nhiên các cảnh báo vẫn tập trung chủ yếu tại một số thị trường như Trung Quốc, EU, Nga và Braxin, cho thấy áp lực tuân thủ tiêu chuẩn chất lượng ngày càng cao .

Thực trạng thị trường và xuất khẩu cá tra Việt Nam

Theo Cục NAFIQPM, cá tra Việt Nam hiện được xuất khẩu sang hơn 140 thị trường trên thế giới, phản ánh mức độ hội nhập sâu rộng của ngành hàng này vào chuỗi cung ứng toàn cầu. Kim ngạch xuất khẩu cá tra năm 2022 đạt 2,44 tỷ USD. Trong 10 tháng năm 2023, kim ngạch xuất khẩu đạt 1,5 tỷ USD, và 10 tháng năm 2024 đạt 1,562 tỷ USD. Đáng chú ý, trong 11 tháng năm 2025, xuất khẩu cá tra đạt trên 2 tỷ USD, tăng 9% so với cùng kỳ năm 2024, theo số liệu công bố ngày 12/12/2025 của Hiệp hội VASEP .

Cơ cấu sản phẩm xuất khẩu cho thấy cá tra tươi, đông lạnh và khô thuộc mã HS0304 chiếm tỷ trọng áp đảo, lên tới 97,6%, trong khi sản phẩm cá tra chế biến thuộc mã HS16 chỉ chiếm 2,4%. Cơ cấu này phản ánh thực tế là tỷ trọng sản phẩm giá trị gia tăng trong xuất khẩu cá tra vẫn còn thấp, làm hạn chế khả năng nâng cao giá trị và sức cạnh tranh của ngành trên thị trường quốc tế .

Về cơ cấu thị trường, Trung Quốc và Hồng Kông tiếp tục là thị trường tiêu thụ lớn nhất, chiếm khoảng 26 – 29% kim ngạch xuất khẩu, tiếp theo là Hoa Kỳ, khối CPTPP, EU và các thị trường khác. Sự đa dạng hóa thị trường giúp ngành cá tra giảm thiểu rủi ro phụ thuộc vào một thị trường đơn lẻ, song đồng thời cũng đặt ra yêu cầu cao hơn về khả năng đáp ứng các tiêu chuẩn kỹ thuật, an toàn thực phẩm và chất lượng khác nhau giữa các thị trường .

Những tồn tại, hạn chế và định hướng giải pháp phát triển bền vững

Bên cạnh những kết quả tích cực, Cục NAFIQPM thẳng thắn chỉ ra nhiều tồn tại và hạn chế trong quản lý chuỗi cá tra. Công tác quản lý điều kiện nuôi trồng và bảo đảm an toàn thực phẩm tại một số cơ sở nuôi và cơ sở ương giống còn hạn chế; tình trạng sử dụng hóa chất và kháng sinh cấm trong nuôi cá tra nhỏ lẻ vẫn xảy ra; một số cơ sở chế biến chưa duy trì tốt điều kiện vệ sinh nhà xưởng và trang thiết bị. Ngoài ra, việc lạm dụng phụ gia tại một số cơ sở chế biến đã làm giảm uy tín sản phẩm cá tra tại một số thị trường nhập khẩu như Braxin và EU. Số cơ sở chế biến chủ động xây dựng chuỗi sản xuất, vận chuyển và chế biến bảo đảm an toàn thực phẩm còn chưa nhiều, trong khi tỷ trọng sản phẩm giá trị gia tăng trong cơ cấu xuất khẩu vẫn ở mức thấp .

Trên cơ sở đó, Cục NAFIQPM đề xuất nhiều nhóm giải pháp trọng tâm. Trong lĩnh vực nuôi trồng, cần tăng cường đầu tư công nghệ nuôi hiện đại, nâng cao năng suất và gắn kết chặt chẽ giữa doanh nghiệp và người nuôi để hoàn thiện kiểm soát chuỗi từ sản xuất đến xuất khẩu. Công tác tập huấn, hướng dẫn người nuôi áp dụng các quy trình nuôi cá tra an toàn thực phẩm, an toàn dịch bệnh và có trách nhiệm theo các tiêu chuẩn như VietGAP, ASC, MSC và GlobalGAP cần được đẩy mạnh. Cơ quan quản lý thủy sản địa phương được yêu cầu rà soát, cấp mã số nhận diện ao nuôi cá tra thương phẩm, tăng cường thanh tra, kiểm tra việc lưu thông, mua bán và sử dụng hóa chất, kháng sinh, xử lý nghiêm các vi phạm theo quy định pháp luật .

Trong lĩnh vực chế biến và thị trường, Cục NAFIQPM nhấn mạnh nhu cầu tăng cường đầu tư công nghệ chế biến, gia tăng tỷ trọng sản phẩm giá trị gia tăng để đáp ứng nhu cầu ngày càng đa dạng của các thị trường nhập khẩu. Việc rà soát và hoàn thiện chương trình quản lý chất lượng theo HACCP, đặc biệt là chế độ tự kiểm tra và thẩm tra của doanh nghiệp đối với các cơ sở cung cấp nguyên liệu, được xem là giải pháp then chốt nhằm giảm thiểu rủi ro cảnh báo và trả hàng. Đồng thời, ngành cá tra cần chủ động cập nhật, phổ biến kịp thời các quy định và yêu cầu mới của thị trường nhập khẩu cho doanh nghiệp xuất khẩu, tăng cường quảng bá sản phẩm theo thị hiếu tiêu dùng từng khu vực và kết nối sản xuất với thị trường nội địa như bếp ăn khu công nghiệp, trường học và hệ thống bán lẻ .

Đặc biệt, Cục NAFIQPM dành sự quan tâm tới việc chuẩn bị cho đợt thanh tra của Cơ quan Thanh tra và An toàn thực phẩm Hoa Kỳ (FSIS) dự kiến diễn ra từ ngày 2 đến 25/3/2026. Các địa phương trọng điểm nuôi và chế biến cá tra cùng các doanh nghiệp được yêu cầu chủ động triển khai các chỉ đạo của Bộ Nông nghiệp và Môi trường, hoàn thành công tác chuẩn bị theo hướng dẫn của Cục NAFIQPM, bảo đảm các cơ sở nuôi cung cấp nguyên liệu cho xuất khẩu sang Hoa Kỳ duy trì tốt điều kiện an toàn thực phẩm và khắc phục triệt để các tồn tại đã được chỉ ra trong các đợt thanh tra trước .

Những kết quả đạt được trong kiểm soát chuỗi sản xuất, giảm tỷ lệ vi phạm an toàn thực phẩm và duy trì tăng trưởng xuất khẩu là tín hiệu tích cực, song các tồn tại và thách thức vẫn đòi hỏi sự vào cuộc đồng bộ của cơ quan quản lý, doanh nghiệp và người nuôi. Trong dài hạn, việc nâng cao chất lượng, bảo đảm an toàn thực phẩm và gia tăng giá trị sản phẩm sẽ là nền tảng quan trọng để cá tra Việt Nam giữ vững thị phần.

Hải Đăng

Ý kiến bạn đọc