Lũy kế xuất khẩu thủy sản 6 tháng đầu năm 2020 ước đạt trên 3,5 tỷ USD (07-07-2020)

Theo báo cáo của Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (Vasep), xuất khẩu thủy sản trong tháng 6 tiếp tục giảm 10% ước đạt 626 triệu USD. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2020, xuất khẩu thủy sản của cả nước ước đạt trên 3,5 tỷ USD, giảm 10,5% so với cùng kỳ năm ngoái.
Lũy kế xuất khẩu thủy sản 6 tháng đầu năm 2020 ước đạt trên 3,5 tỷ USD
Ảnh minh họa

Do tình hình của dịch Covid - 19 vẫn còn diễn biến rất phức tạp, thị trường tiêu thụ và lưu thông hàng hóa đã bị gián đoạn tiếp tục ảnh hưởng đến xuất khẩu thủy sản của Việt Nam sang các thị trường trong quý II/2020. Điều đáng lo ngại hiện nay, nguy cơ bùng phát dịch Covid-19 lần thứ 2 có dấu hiệu quay trở lại tại một số thị trường xuất khẩu thủy sản quan trọng điều này sẽ tiếp tục ảnh hưởng rất lớn đến chuỗi cung ứng và xuất khẩu thủy sản trên toàn cầu trong đó có Việt Nam. Bênh cạnh đó, khi giãn cách xã hội chưa được các nước dỡ bỏ khiến lĩnh vực nhà hàng, dịch vụ ngưng trệ, tiêu thụ các loài thủy sản chính cho phân khúc này giảm khiến giá sản phẩm thủy sản giảm đồng loạt trên thị trường thế giới.

Theo báo cáo của Hiệp hội Chế biến và Xuất khẩu thủy sản Việt Nam (Vasep), xuất khẩu thủy sản trong tháng 6 tiếp tục giảm 10% ước đạt 626 triệu USD. Lũy kế 6 tháng đầu năm 2020, xuất khẩu thủy sản của cả nước ước đạt trên 3,5 tỷ USD, giảm 10,5% so với cùng kỳ năm ngoái. Trong đó, giảm sâu nhất là mặt hàng cá tra giảm 31,5%, cá ngừ và mực bạch tuộc đều giảm 20,5%, nhuyễn thể giảm 18,4% các loại cá biển khác giảm nhẹ 2%. Trong khi đó, hai mặt hàng tôm và các sản phẩm cua ghẹ và giáp xác vẫn có mức tăng trưởng dương. Trong đó, trong 6 tháng đầu năm xuất khẩu sản phẩm tôm tăng khiêm tốn đạt trên 1,478 tỷ USD tăng 2,6% so với cùng kỳ năm ngoái. Ấn tượng nhất là sản phẩm cua, ghẹ và giáp xác có mức tăng trưởng cao mặc dù dịch bệnh ảnh hưởng đến xuất khẩu sang thị trường Trung Quốc, tuy nhiên, sức tiêu thụ trong nước vẫn tăng do đó trong 6 tháng đầu năm sản phẩm cua, ghẹ và giáp xác tăng 14,6 % so với cùng kỳ năm ngoái.

Dịch Covid khiến xuất khẩu sang Trung Quốc, Hàn Quốc giảm mạnh trong 2 tháng đầu năm, từ tháng 3, dịch lắng xuống ở Trung Quốc và bùng phát ở các nước châu Âu và Mỹ khiến xuất khẩu sang những thị trường này bị ảnh hưởng mạnh.

Theo thống kê của Hiệp hội Vasep, tính đến hết tháng 6, xuất khẩu thủy sản sang EU giảm sâu nhất (-35%), sang Mỹ giảm 6%, sang ASEAN giảm 17%, sang Hàn Quốc giảm 9%, Trung Quốc giảm 3% và sang Nhật giảm 5%. Chỉ có một vài thị trường tăng nhẹ nhập khẩu thủy sản từ Việt Nam là Anh và Canada nhưng chỉ chiếm tỷ trọng nhỏ trong tổng xuất khẩu thủy sản của cả nước.

 Dự báo trong một vài tháng tới thương mại thủy sản trên thị trường thế giới chưa có dấu hiệu lạc quan khi dịch Covid nguy cơ bùng phát dịch covid 19 lần 2 và tăng mạnh tại các thị trường lớn Mỹ, EU, Trung Quốc…Đáng lo ngại hơn, sau tin đồn phát hiện virus corona có trong sản phẩm thủy hải sản nhập khẩu tại Trung Quốc khiến thị trường tiêu thụ Trung Quốc đã bị xáo trộn, giao dịch đình trệ. Ngay sau khi có thông tin trên, Trung Quốc đã siết chặt kiểm tra hàng nhập khẩu, khiến cho xuất khẩu thủy sản Việt Nam (tôm, cá tra) sang thị trường này cũng bị chững lại và giá giảm.

Biến thách thức thành cơ hội

Mặc dù, đến nay thị trường tiêu thụ sản phẩm trên toàn cầu vẫn bị gián đoạn ảnh hưởng lớn đến xuất khẩu thủy sản toàn cầu nói chung và Việt Nam nói riêng. Tuy nhiên, Việt Nam vẫn có những tín hiệu nhất định đối với xuất khẩu thủy sản trong thời gian tới, nhất là sau khi tình hình dịch bệnh được các nước kiểm soát thành công sẽ tạo ra cơ hội bứt phá cho thủy sản Việt Nam.

Một tín hiệu mới nhất, khi Hiệp định EVFTA sẽ có hiệu lực vào tháng 8 năm nay giúp Việt Nam có thể tiếp cận một thị trường tiêu thụ thủy sản khổng lồ, với dân số trên 500 triệu người, có thu nhập bình quân cao, mức tiêu thụ bình quân các sản phẩm thủy sản thuộc hàng đầu thế giới.

Hiệp định EVFTA sẽ chính thức có hiệu lực đây sẽ là một “cú hích” cho xuất khẩu thủy sản của Việt Nam trong những tháng cuối năm, nhất là những mặt hàng được hưởng thuế về 0% ngay khi hiệp định có hiệu lực như tôm sú, tôm chân trắng đông lạnh, mực bạch tuộc chế biến, nhuyễn thể hai mảnh vỏ và các sản phẩm có hạn ngạch miễn thuế như cá ngừ đóng hộp và surimi. Hiện mặt hàng thủy sản của Việt Nam xuất khẩu vào EU phải chịu mức thuế lên đến 10,8%, với mức cắt giảm thuế về 0% tương ứng với 90% số mặt hàng xuất khẩu sang thị trường này. Việc xóa bỏ thuế quan đối với hầu hết các mặt hàng mặt hàng thủy sản sẽ tạo lợi thế quan trọng cho Việt Nam khi cạnh tranh với các đối thủ khác trên thị trường EU. 

Với EVFTA, một mặt thủy sản Việt Nam sẽ có cơ hội mở rộng thị trường xuất khẩu, mặt khác sẽ giúp sản phẩm thủy sản Việt Nam tăng khả năng cạnh tranh so với các đối thủ chưa có FTA với EU như Ấn Độ, Thái Lan, Bangladesh hay Indonesia. Ngoài ra, ngành thủy sản cũng sẽ có cơ hội thu hút giới đầu tư nước ngoài, hiện đại hóa công nghệ chế biến và nâng cao chất lượng sản phẩm. Từ đó, vững bước phát triển trong những năm tới đây.

 

Một trong những điều quan trọng khác là với thành công trong kiểm soát và khống chế dịch bước đầu đã tạo ra uy tín rất lớn của Việt Nam trên trường quốc tế, hình ảnh của Việt Nam sẽ tạo ảnh hưởng tốt trong vị thế ngoại giao cũng như trong quan hệ kinh tế. Các nhà đầu tư nước ngoài, các tập đoàn nhập khẩu, bán lẻ đều tin tưởng vào doanh nghiệp Việt Nam. Đối với các doanh nghiệp và người dân trong nước đều tin tưởng vào khả năng kiểm soát dịch của Đảng, Chính phủ và các cơ quan chức năng điều này sẽ tạo tâm lý yên tâm, tiếp tục thả nuôi và tham gia sản xuất ngay khi dịch được kiểm soát sẽ tạo nguồn cung kịp thời cho doanh nghiệp chế biến, các quốc gia tiếp tục nhập hàng thủy sản Việt Nam trong nửa cuối năm 2020.

Mặt khác, trong khi các quốc gia cạnh tranh thuỷ sản chính với Việt Nam như: Ấn Độ, Ecuador…tình hình dịch bệnh vẫn tiếp tục diễn biến phức tạp, vẫn đang bị phong toả, cách ly chống dịch, vì vậy, đã ảnh hưởng đến sản lượng và giảm đến 50% sản lượng xuất khẩu. Đối với các nước như: Indonesia, Philipinnes hay Thái Lan mặc dù bước đầu cũng đã khống chế được dịch bệnh nhưng sản lượng cũng giảm khoảng 30%. Vì vậy, các nước này sẽ có độ trễ đáng kể hơn so với Việt Nam về phục hồi sản xuất sau dịch để duy trì nguồn cung cho thế giới. Đây sẽ là cơ hội lớn cho thuỷ sản Việt Nam.

Bên cạnh đó, Việt Nam hầu như chủ động được chuỗi cung ứng vật tư thiết yếu cho nuôi trồng và chế biến thuỷ sản và không phụ thuộc vào thị trường nước ngoài. Vì vậy, các ngành hàng phụ trợ cho sản xuất thủy sản như: thuốc, hóa chất, bao bì vật tư, trang thiết bị, dụng cụ cho nuôi trồng, chế biến có cơ hội phát triển tại Việt Nam, từ đó tạo điều kiện để các doanh nghiệp thủy sản chủ động hơn trong sản xuất.

Và cuối cùng, dự kiến nhu cầu thực phẩm trong thời gian tới, đặc biệt, là thuỷ sản theo dự báo sẽ tăng mạnh sau dịch Covid-19. Đặc biệt, là các thị trường xuất khẩu truyền thống của Việt Nam như Mỹ, châu Âu, Trung Quốc…có nhu cầu tiêu thụ các sản phẩm thủy sản cao, nhất là những tháng cuối năm để phục vụ các dịp Noel, Tết Dương lịch..

Văn Thọ

Ý kiến bạn đọc

Tin khác