Đánh giá probiotic thương mại cho tôm thẻ chân trắng Thái Bình Dương (12-09-2018)

Trong các loài thủy sinh, vi khuẩn đường ruột phụ thuộc vào môi trường bên ngoài và tồn tại thời gian ngắn trong tự nhiên, do sự hấp thu liên tục của nước, thức ăn và các vi sinh vật có liên quan. Probiotics đã được chứng minh là làm thay đổi hệ vi khuẩn đường ruột bằng cách cạnh tranh với các tác nhân gây bệnh. Ngoài ra, việc bổ sung probiotic vào thức ăn có thể đóng góp cho sức khỏe tổng thể, dẫn đến tăng sản lượng tôm.
Đánh giá probiotic thương mại cho tôm thẻ chân trắng Thái Bình Dương
Ảnh minh họa

Biomin sản xuất một dòng sản phẩm nuôi trồng thủy sản (AquaStar®) được bào chế để cải thiện tôm giống và tăng sản lượng tôm nuôi. Mỗi sản phẩm bao gồm một số chủng vi khuẩn probiotic, và AquaStar® Growout được thiết kế để bổ sung vào thức ăn để tăng sản lượng tôm nuôi.

Các thử nghiệm trước đây với probiotic này trong hệ thống bể nước sạch với tôm thẻ chân trắng Thái Bình Dương (Litopenaeus vannamei) ở Việt Nam đã cho thấy việc tăng tốc độ phát triển, tỷ lệ sống và chức năng miễn dịch. Ngược lại với các hệ thống nước sạch, các hệ thống biofloc chứa các hạt tổng hợp được hình thành từ các thành phần khác nhau, bao gồm vi khuẩn, động vật nguyên sinh, mảnh vụn và thức ăn và mô phỏng giống hơn với hệ thống ao nuôi.

Trong một nghiên cứu khác, sự kết hợp giữa probiotic và AquaStar® Pond đã giúp cải thiện tỷ lệ sống và tỷ lệ chuyển đổi thức ăn FCR trong hệ thống sản xuất tôm biofloc trong nhà, tuy nhiên môi trường nuôi cấy bị nhiễm Vibrio gây bệnh. Thử nghiệm hiện tại đã được thực hiện để xác định tác động của ba mức độ sinh học của AquaStar® Growout (2, 3 hoặc 5 g/kg thức ăn) đối với hoạt động của tôm trong hệ thống bể tôm biofloc thâm canh trong nhà.

Thiết kế thử nghiệm

Một nghiên cứu kéo dài 12 tuần đã được thực hiện tại Viện Hải dương học Chi nhánh Harbor thuộc Đại học Florida Atlantic (FAU-HBOI) ở Ft. Pierce, Fla., trong một nhà kính kiểm soát khí hậu. Thiết kế thử nghiệm khối ngẫu nhiên bao gồm mười sáu bể chứa hình trụ có đường kính 4 foot được trang bị hệ thống tuần hoàn floc điều khiển bằng không khí chứa đầy nước muối (độ mặn 34 ppt).

Mười sáu lít biofloc từ lò phản ứng sinh học ngoài trời đa chức năng của FAU-HBOI (IMTA) đã được thêm vào mỗi bể ba tuần trước khi thả tôm. 100 con tôm trọng lượng 1,5 gram được thả vào mỗi bể vào ngày 2 tháng 5 năm 2017. AquaStar® Growout được trộn vào thức ăn cho tôm Zeigler HI-35 (viên 2 mm) với tỷ lệ 0, 2, 3 hoặc 5 g/kg (0%; 0,2 %; 0,3%, hay 0,5%).

Các probiotic bột đã được thêm vào nước cất ở tỷ lệ pha loãng 1:20 theo hướng dẫn nhãn và sấy khô qua đêm ở 65 độ C. Tôm ban đầu được cho ăn hai lần một ngày bằng tay (tuần một và hai), sau đó thức ăn được cho ăn liên tục bằng cách sử dụng các máy cho ăn dựa trên trọng lượng cơ thể.

Oxy hòa tan (DO), nhiệt độ và độ mặn được đo hai lần mỗi ngày và chất rắn có thể lắng đọng (SS) được đo mỗi ngày một lần bằng các nón Imhoff. Tổng lượng chất rắn lơ lửng (TSS), độ kiềm, tổng nitơ amoniac (TAN), nitrit (NO2-N) và nitrat (NO3-N) được đo hai lần một tuần. Sodium bicarbonate được thêm vào khi cần thiết để duy trì độ kiềm từ 100 đến 150 mg/Lít.

10 con tôm được lấy ra hàng tuần từ một bể được chỉ định cho mỗi lần xử lý và người ta ghi lại trọng lượng tôm. Tỷ lệ sống trung bình, trọng lượng cuối cùng, sản lượng, tốc độ tăng trưởng cụ thể, tỷ lệ tăng trưởng hàng tuần và tỷ lệ chuyển đổi thức ăn được đánh giá vào lúc thu hoạch. Nước được thu gom hàng tuần từ mỗi bể và được đưa vào thử nghiệm ba lần với thạch Thiosulfate-Citrate Bile--Sucrose Agar (một môi trường chọn lọc để phân lập vi khuẩn Vibrio cholerae và enteropathologic Vibrio khác).

Khi chấm dứt thử nghiệm, nước được bổ sung trên thạch biển marine agar (MA) để xác định tổng số lượng vi khuẩn và trên đĩa thạch MacConkey agar (MAC) để xác định số lượng vi khuẩn đường ruột. Vào lúc thu hoạch, đường ruột từ năm con tôm từ mỗi bể được thu thập, gộp lại, thấm ướt và đưa lên các đĩa thạch TCBS, MA và MAC.

Các kết quả

Chất lượng nước tương tự đối với tất cả các nhóm thử nghiệm. Nhiệt độ, độ mặn, pH và nồng độ oxy hòa tan trung bình tương ứng là 28,2-28,9 độ C, 38 gram/ L, 7,6 và 6,6 mg/ L. TAN, NO2-N, NO3-N và alkal trung bình tương ứng là 0,05 mg/L, 0,04 mg/L, 4,4-4,7 mg/L và 139-142 mg/L. Chất rắn lắng đọng tăng từ trung bình 8 ml/L đến 29 ml/L và TSS tăng từ 78 lên 306 mg/L trong khoảng thời gian 12 tuần.

Mặc dù có xu hướng tỷ lệ sống cao hơn (p = 0,056), năng suất (p = 0,059) và FCR thấp hơn (p = 0,060) ở tỷ lệ 0,5% sự khác biệt về thử nghiệm là không đáng kể. Tỷ lệ sống trung bình là 76,5% và cao nhất ở tỷ lệ 0,5%. Tôm đạt trung bình 23,25 gram trong 12 tuần, với tốc độ tăng trưởng hàng tuần trung bình 1,5 gram. Sản lượng trung bình mỗi bể là 1.556 gram và cao nhất ở tỷ lệ 0,5%. FCR trung bình là 1,39 và thấp nhất ở tỷ lệ 0,5%.

Số lượng cột nước Vibrio bắt đầu tăng vào tuần thứ 4 và các mức đỉnh đã được ghi nhận ở tuần thứ 7 và 12. Có một xu hướng số lượng vi khuẩn Vibrio gây bệnh thấp hơn khi lượng probiotic tăng lên; Vibrio gây bệnh trung bình chiếm 17% tổng số Vibrio trong nhóm đối chứng, 13% ở tỷ lệ 0,2% và 0,3%, và 8,5% ở tỷ lệ 0,5%. Các mẫu nước thu thập tại vụ thu hoạch cho thấy không có sự khác biệt giữa các khẩu phần ăn về tổng số vi khuẩn (MA) hoặc Vibrio, tuy nhiên số lượng vi khuẩn sinh trưởng trên môi trường thạch MacConkey trung bình thấp hơn 10x (p = 0,045).

Không có sự khác biệt về số lượng vi khuẩn trung bình từ ruột tôm vào lúc thu hoạch. Tuy nhiên, thành phần của cả vi khuẩn Vibrio và vi khuẩn đường ruột đã bị thay đổi bởi probiotic. Tôm trong chế độ ăn đối chứng có tỷ lệ Vibrio gây bệnh cao hơn, mặc dù tỷ lệ Vibrio gây bệnh trong nước ít hơn. Tôm với chế độ ăn probiotic có tỷ lệ % các khuẩn lạc màu be (không lên men lactose) thấp hơn so với các khuẩn lạc đỏ (lên men lactose); không có khuẩn lạc màu be nào được phát hiện trong bất kỳ mẫu nước nào.

Đánh giá

Mặc dù không có sự khác biệt đáng kể về sản lượng tăng, sự khác biệt về thành phần vi khuẩn đã được ghi nhận ở cả nước và ruột tôm. Ưu thế của kết quả cho thấy rằng kết hợp sản phẩm probiotic này, đặc biệt là ở mức 0,5%, có tiềm năng tác động tích cực đến sức khỏe và sản lượng tôm bằng cách tăng tỷ lệ sống và do đó làm giảm FCR.

HNN (Theo GAA)

Ý kiến bạn đọc

Tin khác