Tôm - Lúa: định hướng ưu tiên phát triển tại Đồng bằng sông Cửu Long (06-04-2023)

Hiện ngành Thủy sản đang nỗ lực nghiên cứu, áp dụng công nghệ sản xuất tôm-lúa theo hướng hiệu quả, bền vững, thích ứng biến đổi khí hậu; nâng cao chất lượng sản phẩm “tôm sạch - lúa thơm”; đặc biệt thân thiện với môi trường, phù hợp với từng vùng sinh thái.
Tôm - Lúa: định hướng ưu tiên phát triển tại Đồng bằng sông Cửu Long

Cách đây 23 năm, tại Nghị quyết số 09/2000/NQ-CP, Chính phủ đã cho phép: Với các loại đất sản xuất lúa kém hiệu quả thì chuyển sang sản xuất các loại sản phẩm khác có hiệu quả cao hơn, như đất khô hạn chuyển sang trồng màu, đất trũng và đất ven biển chuyển sang nuôi trồng thuỷ sản... Theo đó, Việt Nam đã chuyển đổi những vùng đất kém hiệu quả sang nuôi tôm. Trong những năm gần đây, nhà nước và các tổ chức nghiên cứu, hỗ trợ phát triển đã nhận định đúng các lợi thế và thách thức; Từ đó, thực hiện các chương trình, dự án phát triển mô hình tôm-lúa vùng ĐBSCL rất hiệu quả, thích ứng biến đổi khí hậu.

Mới đây, ngày 30/3/2023 tại Bạc Liêu, Trung tâm ICAFIS (Hội Thủy sản Việt Nam) cũng đã phối hợp với Sở Nông nghiệp và PTNT tỉnh Bạc Liêu, OXFAM Việt Nam và MCD tổ chức hội thảo "Thúc đẩy mô hình tôm-lúa và liên kết doanh nghiệp tại ĐBSCL".

Sản phẩm sạch/nuôi hữu cơ càng ngày càng được ưa chuộng

Xét về mặt kinh tế, mô hình tôm-lúa là mô hình sản xuất hiệu quả: đầu tư cho mô hình tôm-lúa thấp, ít rủi ro và giá thành sản phẩm của hình thức nuôi này thấp hơn so với nuôi thâm canh và bán thâm canh. Do vậy, tăng khả năng cạnh tranh cho sản phẩm tôm-lúa trong bối cảnh giá bán tôm nguyên liệu trên thị trường thấp. Mặt khác, sản phẩm tôm-lúa của hình thức canh tác này là sản phẩm sạch/nuôi hữu cơ rất được ưa chuộng trên thị trường.

Hiện tại, các địa phương sản xuất tôm-lúa ở ĐBSCL có kỹ thuật canh tác khá đa dạng và không giống nhau. Phương thức nuôi quảng canh truyền thống được áp dụng phổ biến ở Cà Mau và Bạc Liêu; trong khi, mô hình nuôi tôm-lúa quảng canh cải tiến được áp dụng nhiều ở Sóc Trăng và Kiên Giang. Dưới đây là tên một số mô hình nuôi phổ biến:

(1) Nuôi tôm-lúa quảng canh truyền thống: là hình thức nuôi tôm trong ruộng lúa, thiết kế mương xung quanh với diện tích chiếm 20%, bờ bao và trảng trồng lúa; vuông nuôi với diện tích trung bình khoảng 2ha/hộ. Tôm sú giống PL15 được thả nuôi với mật độ 2-5 con/m2, thức ăn cho tôm chủ yếu phụ thuộc vào nguồn thức ăn tự nhiên, năng suất thu hoạch đạt khoảng 200-300 kg/ha/vụ. Vụ sản xuất lúa vào mùa mưa đạt năng suất khoảng 3,5-4 tấn/ha/vụ.

(2) Nuôi tôm-lúa quảng canh cải tiến: là hình thức nuôi tôm trong ruộng lúa, thiết kế mương xung quanh với diện tích chiếm 20-30%, bờ bao, trảng trồng lúa; vuông nuôi với diện tích trung bình khoảng 1ha/hộ. Tôm sú giống PL15 được thả nuôi với mật độ 5-10 con/m2, có bổ sung thức ăn công nghiệp trong suốt quá trình nuôi, năng suất thu hoạch đạt 400-600 kg/ha/vụ. Vụ sản xuất lúa vào mùa mưa, năng suất đạt 5-6 tấn/ha/vụ.

(3) Nuôi tôm sú luân canh trồng lúa: Trong năm, sản xuất 01 vụ lúa và 01 vụ nuôi tôm. Mùa vụ nuôi tôm bắt đầu vào mùa khô (từ tháng 2-7) khi có nước lợ, mặn (độ mặn >5‰), mật độ giống thả từ 10-15 con/m2, thời gian nuôi khoảng 4-6 tháng, sử dụng hoàn toàn bằng thức ăn công nghiệp, năng suất đạt khoảng 3-5 tấn/ha/vụ; sau đó rửa mặn khoảng 1-2 tháng rồi bắt đầu vụ trồng lúa. Trong vụ nuôi tôm có thể nuôi xen ghép cua, cá nước mặn-lợ; vụ lúa xuống giống bắt đầu từ tháng 9-10 dương lịch, trong vụ trồng lúa có thể thả xen ghép tôm càng xanh, cá nước ngọt để tăng hiệu quả sử dụng đất.

Kết quả sản xuất tôm-lúa tại ĐBSCL

Theo báo cáo của Tổng cục Thủy sản: Năm 2022, diện tích nuôi tôm đạt 747 nghìn ha; trong đó diện tích nuôi tôm-lúa đạt gần 190 nghìn ha; tập trung chủ yếu ở các tỉnh ven biển vùng ĐBSCL: Kiên Giang 110.038 ha, Bạc Liêu 41.540 ha, Sóc Trăng 7.914 ha, Bến Tre 5.360 ha và Trà Vinh 3.164 ha. Sản lượng tôm nuôi đạt 1.080,6 triệu tấn; trong đó sản lượng tôm-lúa đạt khoảng 100 nghìn tấn tôm sú, tôm thẻ chân trắng và trên 20 nghìn tấn tôm càng xanh; tập trung chủ yếu tại các địa phương Kiên Giang 61.313 tấn, Bạc Liêu 14.539 tấn, Sóc Trăng 15.000 tấn, Bến Tre 800 tấn và Trà Vinh 1.265 tấn.

Trong mô hình tôm-lúa thì tôm sú là đối tượng nuôi chủ yếu, ngoài ra còn có một số mô hình nuôi tôm càng xanh xen canh với trồng lúa, thả mật độ thấp. Cùng với đó, một số địa phương thả nuôi tôm thẻ chân trắng bán thâm canh trên đất lúa như huyện Mỹ Xuyên, tỉnh Sóc Trăng (thả một vụ tôm, trồng một vụ lúa). Nhìn chung, các tỉnh/thành vùng ĐBSCL có điều kiện tự nhiên thuận lợi, có thể tiến hành nuôi nhiều vụ tôm-lúa trong năm, diện tích tiềm năng lớn, có khả năng tăng năng suất, sản lượng tôm. Trước bối cảnh nước biển dâng cùng với tình trạng xâm nhập mặn sâu khiến việc mở rộng/chuyển đổi diện tích nuôi tôm vùng ĐBSCL còn lớn. Nghề nuôi tôm-lúa gặp nhiều khó khăn, thách thức. Tôm giống có chất lượng không ổn định, giá cao. Nhiều giống lúa chỉ chịu được độ mặn thấp…

Bên cạnh đó, biến đổi khí hậu làm cho độ mặn thay đổi, tôm chậm lớn, giảm sức đề kháng và dễ bị dịch bệnh, chết hàng loạt. Nhiều vùng sản xuất tôm-lúa bị chậm thời vụ. Năng suất tôm-lúa thấp. Ngoài ra, ruộng lúa có mực nước nông dẫn đến biến động môi trường lớn, tôm nuôi dễ bị tác động xấu, phát sinh dịch bệnh. Đặc biệt, công tác xây dựng thương hiệu, uy tín sản phẩm tôm tôm-lúa (sinh thái) Việt Nam trên thị trường tiêu thụ cả trong và ngoài nước chưa được quan tâm đầu tư đúng mức và bài bản.

Khai thác tối đa lợi thế về điều kiện tự nhiên để nuôi tôm-lúa

Việt Nam đang tăng cường phát triển nghề nuôi tôm-lúa tại ĐBSCL nhằm phát huy lợi thế điều kiện tự nhiên và phù hợp kế hoạch phát triển kinh tế xã hội của từng địa phương và toàn vùng. Phát triển nuôi tôm-lúa theo hướng thích ứng với biến đổi khí hậu, xâm nhập mặn, nâng cao hiệu quả, bền vững, bảo đảm hài hoà lợi ích các bên và không ảnh hưởng tới an ninh lương thực của vùng và Quốc gia. Trong thời gian tới, sẽ tập trung ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ nhằm gia tăng năng suất, nâng cao chất lượng sản phẩm tôm sạch – lúa thơm. Thực hiện hiệu quả Kế hoạch năm 2023, áp dụng các giải pháp phát triển bền vững, duy trì sản xuất tôm-lúa trên diện tích 200 nghìn ha, đạt sản lượng 125 nghìn tấn.

Để góp phần cải thiện năng suất, sản lượng và hiệu quả kinh tế, phấn đấu đạt được các mục tiêu đã đề ra, các tỉnh ĐBSCL có hoạt động sản xuất tôm-lúa sẽ chú trọng kỹ thuật nuôi tôm-lúa: chọn giống chất lượng và giống được ương với kích cỡ từ 1,5-2,0 cm trước khi thả ra ruộng nuôi; tỷ lệ diện tích mương/vuông nuôi phù hợp; độ sâu mực nước trên trảng vuông nuôi đảm bảo yêu cầu kỹ thuật; mật độ thả; số lần thả; thay nước có kiểm soát, sử dụng vôi, phân zeolite, sử dụng chế phẩm vi sinh định kỳ, quản lý môi trường, sức khỏe tôm phù hợp cho phát triển mô hình tôm-lúa ở ĐBSCL.

Đồng thời, thực hiện các nghiên cứu tạo giống lúa chịu mặn cho vùng nuôi tôm-lúa, và nghiên cứu thuốc bảo vệ thực vật gốc sinh học phù hợp cho canh tác lúa trong mô hình tôm-lúa. Hệ thống hóa các kết quả nghiên cứu, khuyến cáo mô hình tôm-lúa thành sổ tay, bộ tài liệu hướng dẫn; Đào tạo, tập huấn kiến thức cho người lao động thực hiện mô hình tôm-lúa tại vùng ĐBSCL. Áp dụng mô hình tôm-lúa cải tiến (có ao lắng, ao ương, ao nuôi bán thâm canh bậc thấp, mương + trảng nuôi tôm quảng canh cải tiến).

Thực hiện các nghiên cứu công nghệ nuôi tôm-lúa theo hướng nâng cao chất lượng sản phẩm (tôm sạch, lúa thơm) và giảm thiểu các tác động tiêu cực đến môi trường. Ưu tiên áp dụng bộ tiêu chuẩn VietGAP cho mô hình tôm-lúa (một vụ tôm và một vụ lúa) cho đối tượng hộ nhỏ lẻ và nhóm hộ nông dân (tổ hợp tác/ hợp tác xã). Đối với các địa phương cần tổng kết, đánh giá, nhân rộng các mô hình nuôi tôm-lúa hiệu quả. Các Viện, Trung tâm nghiên cứu, trường Đại học đẩy mạnh công tác chuyển giao quy trình nuôi tôm thương phẩm và trồng lúa chất lượng cao, đảm bảo tiêu chuẩn xuất khẩu.

Về thương mại, ngành Thủy sản đang tập trung xây dựng thương hiệu (chỉ dẫn địa lý, nhãn hiệu tập thể, nhãn hiệu chứng nhận) tôm-lúa ở ĐBSCL. Xây dựng chuỗi liên kết sản xuất tôm-lúa theo hướng hữu cơ. Phát triển thị trường tiêu thụ tôm nuôi (tôm sú, tôm càng xanh) trong mô hình tôm-lúa trên thị trường quốc tế và nội địa. Thành lập Hiệp hội Tôm Việt Nam, hỗ trợ người sản xuất và các bên liên quan gắn kết chặt chẽ trong công tác sản xuất - xuất khẩu; thúc đẩy hội nhập với khu vực ASEAN và với tổ chức WTO nhằm tạo môi trường thông thoáng cho các doanh nghiệp tham gia chế biến, xuất khẩu tôm.

Ngọc Thúy - FICen

Ý kiến bạn đọc

Tin khác